Điều 15. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn
1. Khi Nhà nước thu hồi đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này.
2. Trường hợp Nhà nước không thu hồi đất, thì đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất thiệt hại tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất, cụ thể:
- Từ đất ở sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất phi nông nghiệp.
- Từ đất ở sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp.
- Từ đất phi nong nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) với giá đất nông nghiệp.
b) Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất, nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tổ. Mức bồi thường được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét cho từng trường hợp cụ thể. Mức bồi thường thiệt hại được tính bằng tỷ lệ % theo giá của thửa đất liền kề không thuộc hành lang an toàn công trình và được Ủy ban nhân dân tcó thẩm quyền xem xét cụ thể theo đề nghị của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất (sau đây gọi chung là Tổ chức bồi thường hỗ trợ và tái định cư)
c) Nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác nằm trong phạm vi hành lang an toàn bị thiệt hại do phải giải tỏa thì được bồi thương theo mức thiệt hại thực tổ.
3. Khi hành lang bản vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích đất có nhà ở, công trình của một chủ sử dụng đất thì phần còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại khoản 1, 2 Điều này.