Điều 26. Ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước
1. Trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ:
a) Các tổ chức, cá nhân có cam kết ứng dụng kết quả nghiên cứu có trách nhiệm tiếp nhận, triển khai ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ sau khi được nhận bàn giao kết quả nghiên cứu;
b) Các đơn vị ứng dụng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chủ trì báo cáo kết quả ứng dụng hằng năm và gửi về Sở Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố trong thời hạn 3 năm kể từ thời điểm nhận bàn giao kết quả nghiên cứu.
2. Những loại hình nhiệm vụ sau đây phải thực hiện cung cấp thông tin về ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định: Đề tài KH&CN, đề án khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN. Những nội dung thông tin về kết quả và ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ được công bố công khai trên trên trang thông tin điện tử của Trung tâm Thông tin khoa học và công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ.
3. Xây dựng kế hoạch triển khai ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ:
a) Các đơn vị ứng dụng phải có trách nhiệm xây dựng kế hoạch ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ và bố trí kinh phí để triển khai thực hiện;
b) Đối với các nhiệm vụ có thể ước tính được kinh phí ứng dụng kết quả nghiên cứu thì làm rõ trong thuyết minh đề tài, ở mục Khả năng ứng dụng và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu.
4. Tổ chức KH&CN sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có hoạt động liên kết với tổ chức ứng dụng, chuyển giao công nghệ địa phương được Ủy ban nhân dân thành phố xem xét hỗ trợ thông qua nhiệm vụ cấp thành phố để hoàn thiện kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phù hợp đặc thù của địa phương theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 76/2018/NĐ-CP.