vanban.org

Điều 21. Công tác phòng trừ sinh vật hại — Quyết định 34/2004/QĐ-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/09/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 07/07/2011 Sửa đổi, bổ sung: 02/2011/TT-BTC · 07/01/2011 Sửa đổi, bổ sung: 03/2011/TT-BTC · 07/01/2011
Bộ Tài chính Ban hành 14/04/2004 Hiệu lực 22/05/2004 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 22 năm
Quyết định số 34/2004/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Ban hành các quy phạm về bảo quản hàng hoá Dự trữ Quốc gia · 34/2004/QĐ-BTC
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 34/2004/QĐ-BTC › Chương 4 › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Công tác phòng trừ sinh vật hại

1. Phòng ngừa và thực hiện các biện pháp trừ diệt thông thường: Đây là công việc tiến hành thường xuyên, từ khi nhập kho và trong suốt quá trình bảo quản nhằm kiềm  chế sự phát triển và làm giảm  mật độ sâu mọt hại trong khối hạt.

a/ Phòng ngừa: 

Thực hiện tốt biện pháp  3 cách ly:

Thóc nhập kho không có sâu mọt sống,

Trong cùng một nhà kho hay một dãy kho hạn chế để đan xen các ngăn, lô thóc cũ và mới; nếu có thì giữa các ngăn kho phải có vách ngăn đảm bảo hạn chế tối đa sự lây nhiễm của sâu mọt.

Không để  bao bì, dụng cụ chứâ, đựng  thóc cùng với các ngăn hoặc lô có thóc.

Bằng nhiều biện pháp, khống chế độ ẩm khối hạt, giữ cho độ ẩm khối hạt luôn ằm trong giới hạn an toàn, nhằm hạn chế hoạt động sinh lý của sâu mọt.

Phun thuốc phòng trùng: căn cứ khả năng điều kiện phát sinh, phát triển của sâu mọt, đơn vị có kế hoạch phun thuốc phòng trùng thích hợp để vừa ngăn ngừa, hạn chế sâu mọt gây hại đồng thời hạn chế tình trạng côn trùng nhờn thuốc.

b/ Trừ diệt thông thường:

Căn cứ kết quả kiểm tra tình hình sâu mọt hại, khi mật độ quần thể các loài sâu mọt hại chủ yếu vượt qua mức an toàn (theo quy định tại Điều 18), phòng Kỹ thuật bảo quản hướng dẫn các đơn vị tiến hành việc trừ diệt theo cách thức phù hợp trên cơ sở các biện pháp trừ diệt thông thường hiện nay.

Biện pháp cơ học:

Sử dụng các loại sàng tay, sàng cải tiến và các hình thức khác để tách sâu mọt và trừ diệt, làm giảm mật độ sâu mọt có trong thóc.

Dùng bẫy ánh sáng thu hút côn trùng vào các chậu có pha sẵn thuốc bảo vệ thực vật.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc đơn thuần từ thực vật (thảo mộc), các chế phẩm vi sinh,…

2. Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hoá chất gọi là biện pháp diệt trùng hoá học (bao gồm thuốc tiếp xúc và thuốc xông hơi). Chỉ áp dụng khi mật độ côn trùng ở mức cao và với các điều kiện cụ thể sau:

a/ Mật độ quần thể các loài gây hại chủ yếu:

Thóc đổ rời:

Từ 10 con/kg trở lên (lấy mẫu theo tiêu chuẩn- Phương pháp xác định mức độ nhiễm côn trùng hiện hành) hoặc

30 con/kg trở lên, lấy mẫu tại lớp thóc mặt (quy định tại Điều 18)

Với ngài mạch: từ  30 con/m2 trở lên.

Thóc đóng bao:

Từ 50 cá thể côn trùng cánh cứng/kg (lấy mẫu ở lớp bao ngoài cùng và ở các giếng thông hơi).

Với ngài mạch: từ  30 con/m2 trở lên.

b/ Thời gian giữa 2 lần dùng thuốc tối thiểu là 6 tháng.

c/ Cách thời điểm xuất kho: từ 3 tháng trở lên.

Trường hợp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật xử lý phòng trừ sâu mọt ngay sau khi thóc nhập kho ổn định, Cục có hướng dẫn thực hiện riêng.

Khuyến khích các đơn vị áp dụng các biện pháp trừ diệt thông thường thay cho biện pháp hoá học mà vẫn đảm bảo hiệu quả trừ diệt. Biện pháp trừ diệt thông thường có thể tiến hành theo từng quí (3 tháng 1 lần).

3. Nguyên tắc khi tiến hành các biện pháp trừ diệt côn trùng:

Áp dụng biện pháp trừ diệt nào, loại thuốc bảo vệ thực vật nào cần căn cứ tình hình phát triển của sâu mọt (thành phần loài, tốc độ phát triển), điều kiện, khả năng thực tế của đơn vị và đảm bảo các yêu cầu: hiệu quả kinh tế, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho con người, sinh vật có ích, hạn chế ô nhiễm môi trường và giữ gìn cân bằng sinh thái.

Chỉ được sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục quy định của Nhà nước ở mục khử trùng kho và theo đúng với nội dung đã được khuyến cáo. ưu tiên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc, chế phẩm sinh học và thuốc hóa học ít độc hại.

4. Công tác bảo đảm  an toàn khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Thực hiện đầy đủ các quy định bảo vệ an toàn cho người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thực hiện việc niêm yết, cảnh báo và có biện pháp để người và vật nuôi không vào khu vực xử lý thuốc trong thời gian quy định.

5. Phòng, diệt chim và chuột phá hại: Đối với chim, chuột, biện pháp chủ yếu là phòng ngừa, kho bảo quản phải có hệ thống ngăn chặn, đảm bảo hạn chế tối đa chim chuột vào kho. Riêng đối với kho cuốn và kho có trần kiên cố, yêu cầu không có chuột trong kho.

Khi phát hiện trong kho có chuột phải sử dụng các loại bẫy, bả độc, thuốc diệt chuột để tiêu diệt. Khi dùng bả độc và thuốc diệt chuột hàng ngày phải kiểm tra và thu dọn xác chuột chết, sau mỗi đợt 3 ngày phải thu hồi các bả độc còn lại, chôn xác chuột và bả độc vào nơi quy định. Chỉ sử dụng các hoá chất diệt chuột có trong danh mục được phép sử dụng của Nhà nước.