Điều 4. Trách nhiệm, phạm vi, cách thức giải quyết công việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố là người lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân thành phố, có trách nhiệm giải quyết công việc được quy định tại Điều 126, Điều 127 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và những vấn đề khác mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp chỉ đạo giải quyết hoặc giao Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì, phối hợp giải quyết những vấn đề liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương trong thành phố. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố có thể thành lập các tổ chức tư vấn để giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết công việc.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố uỷ quyền cho Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo công việc của Ủy ban nhân dân thành phố khi Chủ tịch đi vắng. Khi một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đi vắng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp giải quyết hoặc phân công Phó Chủ tịch khác giải quyết công việc thay Phó Chủ tịch đi vắng. Trong trường hợp đặc biệt, cấp bách, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp chỉ đạo giải quyết công việc của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố phụ trách lĩnh vực đó. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố thông báo bằng văn bản các nội dung uỷ quyền hoặc phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và kết quả giải quyết công việc cho Chủ tịch và Phó Chủ tịch đi vắng biết.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố xem xét điều chỉnh việc phân công giữa các thành viên Ủy ban nhân dân thành phố, khi thấy cần thiết.
5. Thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố theo quy định tại Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XIV.