Điều 21. Trách nhiệm của Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố trong việc chuẩn bị phiếu trình
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố chỉ trình Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố những vấn đề thuộc phạm vi giải quyết của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dânthành phố nêu tại các Điều 3, 4, 5 và có đủ thủ tục theo quy định tại Điều 26 Quy chế này.
2. Khi nhận được hồ sơ của các cơ quan trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố có nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ về thủ tục, thể thức, hình thức văn bản dự thảo của cơ quan trình và lập phiếu trình giải quyết công việc trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Đối với dự thảo là văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản do các cơ quan trình đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ký ban hành, sau khi thẩm tra, thống nhất, phải có chữ ký tắt của Thủ trưởng cơ quan soạn thảo và Chánh Văn phòng hoặc Phó chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố.
a) Thẩm tra về mặt thủ tục: nếu hồ sơ trình không đúng quy định, trong 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận hồ sơ trình, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố trả lại hồ sơ và đề nghị Thủ trưởng cơ quan trình bổ sung đủ hồ sơ theo quy định.
Trường hợp văn bản đến không thuộc phạm vi giải quyết của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố nêu tại các Điều 3, 4, 5 và không đủ thủ tục theo quy định tại Điều 26 Quy chế này; sau 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố làm phiếu chuyển tới cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho cơ quan trình văn bản biết.
b) Thẩm tra về thể thức, hình thức văn bản dự thảo: nếu thể thức, hình thức văn bản dự thảo không phù hợp, chưa đúng quy định, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp với cơ quan chủ trì dự thảo hoàn chỉnh lại.
c) Thẩm tra về nội dung và tính thống nhất, hợp pháp của văn bản dự thảo: Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố có ý kiến thẩm tra độc lập về nội dung, tính thống nhất, hợp pháp của văn bản dự thảo; đồng thời phối hợp với cơ quan soạn thảo chỉnh sửa những nội dung không đúng, không phù hợp trong văn bản dự thảo trước khi trình Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Đối với những vấn đề chưa thống nhất được với cơ quan soạn thảo, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì tổ chức họp với cơ quan soạn thảo và các cơ quan có liên quan để thảo luận đi đến thống nhất. Sau khi thống nhất, dự thảo văn bản trình Ủy ban nhân dân thành phố hoặc Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ký ban hành phải có chữ ký tắt của Thủ trưởng cơ quan soạn thảo và Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố. Trường hợp vẫn chưa thống nhất với cơ quan trình, được bảo lưu ý kiến và trình bày rõ trong phiếu trình, trình Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định (kèm theo ý kiến của cơ quan trình).
3. Chậm nhất là 07 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ theo quy định, Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố phải hoàn thành công việc thẩm tra và lập phiếu trình, kèm theo đầy đủ hồ sơ, tài liệu, trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.