Điều 45. Trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố
1. Chỉ đạo Thanh tra Thành phố, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Ban Tiếp Công dân Thành phố và người đứng đầu các sở, các cơ quan tương đương sở thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã phối hợp thực hiện nghiêm túc công tác thanh tra, tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; định kỳ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố họp với các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố và người đứng đầu các cơ quan liên quan để chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền quy định tại Luật Khiếu nại và Điều 21 của Quyết định số 80/2014/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quy định về khiếu nại vả giải quyết khiếu nại thuộc Thành phố.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giải quyết tố cáo theo thẩm quyền quy định tại Luật Tố cáo và Điều 10 của Quyết định số 79/2014/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo thuộc Thành phố.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của Pháp luật.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ khi để xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, gây thiệt hại lớn, những vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài, gay gắt, đông người, vượt cấp thuộc phạm vi quản lý của Thành phố.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện việc tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân; phối hợp chặt chẽ với Thường trực Thành ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố tổ chức tiếp công dân.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thể ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố tiếp công dân theo quy định của pháp luật.