Điều 7. Thời hiệu xử lý kỷ luật
1. Thời hiệu xử lý kỷ luật là khoảng thời gian quy định phải tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật đối với cán bộ và cán bộ không chuyên trách có hành vi vi phạm, được tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, hoặc cơ quan điều tra xác định cán bộ và cán bộ không chuyên trách có hành vi vi phạm, cho đến thời điểm HĐKL họp.
2. Thời hiệu xử lý kỷ luật quy định là 03 tháng. Trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp, cần có thời gian thanh tra, kiểm tra, xác minh làm rõ thêm, thì thời hiệu xử lý kỷ luật có thể kéo dài, nhưng tối đa không quá 06 tháng. Việc kéo dài thêm thời hiệu kỷ luật trong trường hợp này, được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền xử lý kỷ luật.
Quá thời hiệu xử lý kỷ luật nhưng vẫn chưa xác định được lỗi vi phạm, thì chấm dứt việc xem xét, xử lý kỷ luật.
3. Trường hợp vi phạm của cán bộ và cán bộ không chuyên trách liên quan đến vụ việc đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử, thì thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật được tính kể từ ngày cơ quan tố tụng có văn bản đình chỉ điều tra, miễn truy tố, chuyển sang xử lý hành chính, hoặc từ ngày phán quyết của tòa án về hành vi vi phạm có hiệu lực pháp luật.
4. Thời gian tạm thời chưa xem xét kỷ luật các trường hợp được quy định tại Điều 3 của Quy định này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật trong trường hợp này, được tính kể từ ngày cán bộ và cán bộ không chuyên trách đi làm việc trở lại bình thường.
5. Trường hợp quyết định kỷ luật đối với cán bộ và cán bộ không chuyên trách bị xem xét lại do có đơn khiếu nại, hoặc do cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra, thanh tra việc xử lý kỷ luật, thì thời hiệu xử lý kỷ luật được tính kể từ khi có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền, hoặc từ khi có văn bản kiến nghị xem xét lại quyết định kỷ luật của cơ quan có thẩm quyền.
6. Người được giao thẩm quyền xử lý kỷ luật mà chưa xử lý, để hết thời hiệu xử lý kỷ luật quy định, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.