Điều 6. Hình thức kỷ luật và xử lý vi phạm
1. Cán bộ và cán bộ không chuyên trách nếu vi phạm các quy định của pháp luật, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thì tùy theo tính chất, mức độ và động cơ vi phạm, để xem xét và xử lý kỷ luật theo một trong các hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Cách chức, nếu là: Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Phó trưởng Công an, hoặc Phó chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã;
d) Buộc thôi việc.
2. Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND cấp xã do vi phạm kỷ luật được thực hiện theo quy định về trình tự, thủ tục và thời hạn của Luật Tổ chức HĐND và UBND hiện hành.
3. Trường hợp bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên, thì không được tuyển dụng, ứng cử, bầu cử, hoặc bổ nhiệm vào các chức danh, chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất một năm, kể từ ngày chấp hành quyết định kỷ luật của cấp có thẩm quyền.
4. Trường hợp làm mất mát, hư hỏng trang thiết bị, hoặc có hành vi gây thiệt hại tài sản Nhà nước, thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại cho người khác, thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại, theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp vi phạm pháp luật mà có dấu hiệu của tội phạm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp phạm tội bị tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo, thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.
8. Trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ chức vụ và tạm đình chỉ công tác:
a) Trong thời gian đang bị kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét kỷ luật, cán bộ và cán bộ không chuyên trách có thể bị cấp có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác, nếu xét thấy để người đó tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, xác minh hoặc có thể tiếp tục có hành vi vi phạm;
b) Đối với trường hợp tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác:
- Việc tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác chỉ được thực hiện trong thời hiệu xử lý kỷ luật;
- Thời hạn tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 03 tháng;
- Người có thẩm quyền tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp xã là Chủ tịch UBND cấp huyện và đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã là Chủ tịch UBND cấp xã;
- Trong thời gian bị tạm đình chỉ chức vụ, cán bộ và cán bộ không chuyên trách vẫn được cơ quan, tổ chức tiếp tục bố trí làm công việc thích hợp và vẫn được hưởng 100% tiền lương và phụ cấp hiện lĩnh, trừ phụ cấp chức vụ (nếu có);
- Hết thời hạn tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác, nếu cán bộ và cán bộ không chuyên trách chưa bị xử lý kỷ luật thì được cơ quan, tổ chức tiếp tục bố trí làm việc thích hợp;
- Trong trường hợp được kết luận không có lỗi, thì sau khi bị tạm đình chỉ chức vụ, tạm đình chỉ công tác, cán bộ và cán bộ không chuyên trách được bố trí trở lại vị trí công tác cũ;
- Trường hợp có lỗi và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, thì tùy theo tính chất, mức độ hành vi vi phạm, cán bộ và cán bộ không chuyên trách có thể được xem xét, bố trí trở lại vị trí công tác cũ;
- Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác, cán bộ và cán bộ không chuyên trách được giải quyết 50% tiền lương và các khoản phụ cấp. Sau khi xem xét, nếu không bị xử lý kỷ luật, thì cán bộ và cán bộ không chuyên trách được truy lĩnh phần tiền lương và các khoản phụ cấp còn lại.
c) Đối với trường hợp bị tạm giữ, tạm giam:
- Việc tạm giữ, tạm giam đối với cán bộ và cán bộ không chuyên trách có dấu hiệu vi phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành;
- Trường hợp cán bộ và cán bộ không chuyên trách bị tạm giữ, tạm giam mà chưa có kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm, thì chưa tiến hành xem xét xử lý kỷ luật.