Điều 73. Thẩm quyền điều chỉnh nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở
1. Trong quá trình triển khai nhiệm vụ KH&CN, nếu có vấn đề cần điều chỉnh, chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN đề nghị để tổ chức chủ trì có văn bản gửi thủ trưởng cơ quan quản lý KH&CN cấp cơ sở xem xét quyết định.
2. Thẩm quyền điều chỉnh cụ thể như sau:
a) Đối với ngành: Thủ trưởng cơ quan quản lý KH&CN cấp sở có thẩm quyền điều chỉnh về tên nhiệm vụ KH&CN, tổ chức chủ trì, tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước, mục tiêu, sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN so với mục tiêu, sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN tại Quyết định phê duyệt danh mục và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở. Việc điều chỉnh thời gian thực hiện nhiệm vụ KH&CN chỉ được thực hiện không quá 02 lần và tổng thời gian không quá 12 tháng.
b) Đối với huyện
- Thủ trưởng cơ quan phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH&CN có thẩm quyền điều chỉnh về tên nhiệm vụ KH&CN, tổ chức chủ trì và tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước.
- Phòng quản lý KH&CN cấp cơ sở có thẩm quyền điều chỉnh mục tiêu, sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN so với mục tiêu, sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN tại Quyết định phê duyệt danh mục; điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở.
Riêng việc điều chỉnh thời gian thực hiện nhiệm vụ KH&CN chỉ được thực hiện không quá 02 lần và tổng thời gian không quá 12 tháng. Trường hợp đặc biệt do Thủ trưởng cơ quan phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH&CN quyết định.