Điều 25. Quy định về tuyến trình
1. Tuyến trình khen thưởng thực hiện theo Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ; Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 của Chính phủ; Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ và Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
2. Tập thể, cá nhân chuyên trách công tác Đảng, đoàn thể thuộc tỉnh có đủ tiêu chuẩn khen thưởng theo quy định thì cơ quan Đảng, Mặt trận, Hội, đoàn thể trực tiếp quản lý xét khen thưởng và đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng hoặc trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước khen thưởng. Tập thể, cá nhân chuyên trách công tác Đảng, đoàn thể thuộc huyện, thành phố có đủ tiêu chuẩn khen thưởng theo quy định thì cơ quan Đảng, đoàn thể trực tiếp quản lý xét đề nghị Chủ tịch UBND huyện, thành phố khen thưởng hoặc trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định khen thưởng hoặc đề nghị Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước khen thưởng.
3. Liên đoàn Lao động huyện, thành phố; Công đoàn ngành cấp tỉnh, Công đoàn viên chức tỉnh; Công đoàn Khu Kinh tế, Khu công nghiệp; Công đoàn Tổng Công ty và tương đương; Công đoàn cơ sở và cán bộ công đoàn chuyên trách hưởng lương từ ngân sách công đoàn thuộc đơn vị nêu trên đề nghị tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng do Liên đoàn Lao động tỉnh xét khen thưởng, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh xét tặng danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc, tặng Bằng khen, Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh và đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh xem xét trình cấp trên khen thưởng.
4. Đối với đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty liên doanh... tuyến trình được thực hiện như sau:
a) Các Công ty do UBND tỉnh quyết định thành lập (cổ phần, doanh nghiệp...), là thành viên khối, cụm thi đua, khen thưởng của tỉnh; các doanh nghiệp thuộc tỉnh và Bộ, ngành Trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh do Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc Công ty trực tiếp trình Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng. Các doanh nghiệp khác thuộc ngành, lĩnh vực nào thì trên cơ sở đề nghị của người đứng đầu doanh nghiệp đó, Thủ trưởng các sở, ngành quản lý lĩnh vực đó trình Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng.
b) Các doanh nghiệp không thuộc khối thi đua của tỉnh, không thuộc quản lý ngành, lĩnh vực của các sở, ngành mà đóng tại địa phương (huyện, thành phố) nào thì địa phương đó trình Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp (trừ các đơn vị là thành viên của tập đoàn kinh tế hoặc thành viên của tổng công ty nhà nước).
5. Đối với tập thể, cá nhân doanh nghiệp thuộc Khu Kinh tế, Khu công nghiệp do Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế, Trưởng Ban Quản lý Khu công nghiệp xét khen thưởng; trên cơ sở đề nghị của Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế, Trưởng Ban Quản lý Khu công nghiệp, Chủ tịch UBND tỉnh khen thưởng và trình Thủ tướng Chính phủ xét, quyết định khen thưởng hoặc trình Chủ tịch nước khen thưởng (trừ các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty, Tập đoàn Kinh tế do Trung ương quản lý).
6. Trường hợp khen thưởng đột xuất gương hành động dũng cảm, cứu người, cứu tài sản, truy bắt tội phạm, trong phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương nào thì cơ quan, đơn vị, địa phương đó có trách nhiệm khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng (không phân biệt người đó trong hay ngoài cơ quan, đơn vị, địa phương).
7. Việc lấy ý kiến hiệp y đề nghị khen thưởng của các sở, ban, ngành, các Ban Đảng Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Hội, đoàn thể tỉnh đối với các trường hợp khen thưởng các phòng, ban và cấp trưởng phòng, ban, hội, đoàn thể của huyện, thành phố và các cơ quan khác có liên quan khi cần thiết do Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh thực hiện. Khi có văn bản gửi để lấy ý kiến hiệp y, sau 05 ngày làm việc (tính theo dấu Bưu điện hoặc ký nhận công văn) các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm trả lời, trường hợp không có ý kiến trả lời thì coi như thống nhất và Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh xử lý trình cấp thẩm quyền, đồng thời có trách nhiệm trả lời cho đơn vị đề nghị khen thưởng.