Điều 28. Hỗ trợ khác.
1. Hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi hết đất nông nghiệp đang sử dụng mà không còn đất để sản xuất, không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Điều 44, 45, 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì UBND cấp huyện xem xét, trường hợp cần thiết thì báo cáo trình UBND tỉnh xem xét cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
2. Trường hợp mượn đất để sử dụng tạm thời trong quá trình thi công công trình thì ngoài việc việc bồi thường thiệt hại tài sản trên đất thì:
a) Đối với đất phi nông nghiệp được hỗ trợ thiệt hại bằng mức giá thuê đất hàng năm theo quy định;
b) Đối với đất nông nghiệp được hỗ trợ chi phí cải tạo đất để phục hồi lại đúng trạng thái ban đầu, mức hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể. Trường hợp mượn đất nông nghiệp để sử dụng tạm thời nhưng quá trình sử dụng đã phá huỷ hoàn toàn mà không thể phục hồi lại trạng thái ban đầu của đất thì được hỗ trợ bằng 100% mức bồi thường cho loại đất nông nghiệp ban đầu.
3. Hỗ trợ gia đình chính sách khi phải di chuyển để giải phóng mặt bằng.
Ngoài chính sách hỗ trợ di chuyển tại khoản 2 Điều 23 của Quy định này,
hộ gia đình có người có hộ khẩu thường trú tại gia đình đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước (có xác nhận của phòng lao động thương binh và xã hội cấp huyện) phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất, được hỗ trợ thêm với mức 2.000.000 đồng/hộ (không phân biệt gia đình có bao nhiêu người hưởng chế độ trợ cấp xã hội);
4. Trường hợp khác, UBND các huyện, thành phố, thị xã báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm ổn định đời sống và sản xuất cho người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất.