Điều 25. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm hoặc giá đất vườn còn được hỗ trợ bằng 50 % giá đất ở của thửa đất đó, diện tích được hỗ trợ là diện tích thu hồi nhưng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp có ít nhất một mặt tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp, còn được hỗ trợ bằng 35% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất của địa phương, diện tích được hỗ trợ là diện tích thu hồi nhưng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.
Giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi được xác định như sau:
a) Đối với khu vực dự án có đất thu hồi có các thửa đất ở thì giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất được xác định là giá đất ở trung bình của tất các thửa đất ở bị thu hồi;
b) Đối với khu vực dự án có đất thu hồi không có các thửa đất ở, sau khi có văn bản hướng dẫn của của Trung ương, giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Sở Tài chính hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, thị xã xác định giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất;
c) Trường hợp khác do UBND cấp huyện đề nghị, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Sở Tài chính trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.