Điều 23. Chế độ thông tin, báo cáo
1. Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm xây dựng báo cáo hàng năm về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát văn bản và báo cáo kết quả hệ thống hóa định kỳ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.
2. Chế độ báo cáo, nơi nhận báo cáo
a) Đối với công tác kiểm tra văn bản QPPL
Phòng Tư pháp xây dựng dự thảo Báo cáo công tác kiểm tra, xử lý văn bản trên địa bàn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ký gửi Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua Sở Tư pháp.
Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm xây dựng dự thảo báo cáo công tác kiểm tra, xử lý văn bản trên địa bàn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ký gửi Phòng Tư pháp.
Sở Tư pháp xây dựng dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý trên địa bàn tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo về Bộ Tư pháp.
b) Đối với công tác rà soát văn bản QPPL
Phòng Tư pháp xây dựng dự thảo báo cáo rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ký gửi Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua Sở Tư pháp.
Các cơ chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo, thông tin cho Phòng Tư pháp về kết quả thực hiện rà soát, hệ thống hóa thuộc trách nhiệm của đơn vị.
Sở Tư pháp xây dựng dự thảo báo cáo kết quả rà soát, hệ thống hóa trên địa bàn tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký gửi Bộ Tư pháp.
Các sở, ngành tỉnh có trách nhiệm báo cáo, thông tin kết quả thực hiện công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL thuộc trách nhiệm của cơ quan gửi Sở Tư pháp tổng hợp.
3. Thời gian gửi báo cáo và thời điểm lấy số liệu báo cáo hàng năm
Được thực hiện theo quy định của Bộ Tư pháp và theo yêu cầu của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp.
4. Nội dung báo cáo
a) Công tác kiểm tra, xử lý văn bản được thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 135 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
b) Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 170 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.