Điều 22. Thực hiện kế hoạch hệ thống hóa văn bản QPPL theo định kỳ tại địa phương
1. Căn cứ vào kế hoạch hệ thống hóa văn bản QPPL theo định kỳ đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp làm đầu mối tổ chức triển khai thực hiện.
2. Các sở, ngành tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp với Phòng Tư pháp triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công, tiến hành hệ thống hóa các văn bản thuộc trách nhiệm của cơ quan mình theo trình tự hệ thống hóa quy định tại Điều 167 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 39, Điều 1, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP và thực hiện các công việc khác liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan khi được đề nghị.
3. Công bố kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
a) Phòng Tư pháp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp công bố kết quả hệ thống hóa các văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trước ngày 20 tháng 02 của năm liền kề kỳ hệ thống hóa.
b) Sở Tư pháp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố kết quả hệ thống hóa các văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 01 tháng 3 của năm liền kề kỳ hệ thống hóa.
4. Kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và đăng Công báo tỉnh hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp sau khi công bố, phát hiện các danh mục văn bản và tập hệ thống hóa văn bản còn hiệu lực có sai sót thì các sở, ngành tỉnh hoặc các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phối hợp với Sở Tư pháp hoặc Phòng Tư pháp tiến hành rà soát để đính chính.
5. Trong vòng 20 ngày làm việc, kể từ ngày công bố kết quả hệ thống hóa văn bản Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp dự thảo báo cáo kết quả hệ thống hóa trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp gửi cơ quan thẩm quyền.