vanban.org

Điều 14. Đăng ký khai sinh cho trẻ em — Nghị định 36/2005/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 10/10/2011 Thay thế: 71/2011/NĐ-CP · 22/08/2011 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 62/2009/NĐ-CP · 27/07/2009
Chính phủ Ban hành 17/03/2005 Hiệu lực 06/04/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời nghị định · 9 phiên bản · 45 năm
Nghị định số 56/2017/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em · 56/2017/NĐ-CP
Nghị định số 71/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em · 71/2011/NĐ-CP
Nghị định số 36/2005/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em · 36/2005/NĐ-CP
10/10/201171/2011/NĐ-CPThay thế Đang xem 01/10/200962/2009/NĐ-CPBãi bỏ 06/04/2005Bản gốcThay thế
Nghị định số 374/HĐBT Quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991 · 374/HĐBT
Nghị định số 293-CP Về việc thi hành Pháp lệnh ngày 14/11/1979 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em · 293-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 36/2005/NĐ-CP › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Đăng ký khai sinh cho trẻ em

1. Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Việc khai sinh cho trẻ em được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

2. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; vận động cha mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Trong trường hợp thiếu hồ sơ, thủ tục, người có thẩm quyền đăng ký khai sinh phải hướng dẫn, không được gây khó khăn, phiền hà đối với người đi khai sinh.

3. Cán bộ hộ tịch tư pháp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ, xác minh, kiểm tra, làm thủ tục đăng ký khai sinh; thường xuyên kiểm tra, đăng ký khai sinh kịp thời; phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch; thực hiện việc báo cáo tình hình; sử dụng biểu mẫu theo quy định; lưu trữ sổ sách, hồ sơ về đăng ký khai sinh. Đối với những khu vực có điều kiện đi lại khó khăn, người dân còn bị chi phối bởi những phong tục, tập quán, cán bộ hộ tịch tư pháp phải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký khai sinh cho trẻ em.

4. Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh. Uỷ ban nhân dân cấp xã xác định gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định chuẩn nghèo hiện hành được áp dụng cho từng thời kỳ.

5. Cơ quan Dân số, Gia đình và Trẻ em các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan Tư pháp cùng cấp tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ cha mẹ, người giám hộ để họ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.