Điều 46. Thời hiệu thi hành bản án.
1- Khôngbuộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lựcpháp luật đã qua những thời hạn sau đây:
a) Năm nămđối với các trường hợp xử phạt từ năm năm tù trở xuống;
b) Mười nămđối với các trường hợp xử phạt tù từ trên năm năm đến mười lăm năm;
c) Mười lămnăm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến hai mươi năm.
Nếu trong trườnghợp nói trên người bị kết án lại phạm tội mới và bị xử phạt tù thì thời gian đãqua không được tính và thời hiệu tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trongthời hạn nói trên người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thìthời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ratrình diện hoặc bị bắt giữ.
2- Đối vớinhững trường hợp nói ở các điểm a và b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về tộiđặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và đối với những trường hợp nói ởđiểm c khoản 1 Điều này không kể về tội gì, nếu có lý do đặc biệt, thì Toà ánnhân dân tối cao, theo kết luận của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, có thểquyết định không áp dụng thời hiệu.
3- Việc ápdụng thời hiệu đối với các trường xử phạt tù trung thân hoặc tử hình, sau khiqua thời hạn mười lăm năm, sẽ do Toà nhân dân tối cao quyết định theo kết luậncủa Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp không cho áp dụng thờihiệu thì tử hình sẽ đổi thành tù chung thân, tù chung thân sẽ đổi thành tù haimươi năm.