Điều 26. Công tác trắc địa
1. Sử dụng bản đồ địa hình hệ tọa độ quốc gia cùng tỷ lệ điều tra chi tiết hoặc lớn hơn.
2. Trường hợp không có bản đồ địa hình được nêu ở khoản 1 Điều này thì lập mới bản đồ địa hình theo quy định đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công tác thành lập bản đồ địa hình.
3. Hệ tọa độ được sử dụng để thành lập bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng, phân vùng hiểm họa do sạt lở đất và các loại bản đồ khác áp dụng trong Thông tư này là hệ tọa độ Quốc gia VN-2000 kinh tuyến trục địa phương, múi chiếu 3º cùng tỷ lệ.
4. Các công trình khoan máy, hố đào, vết lộ giao nhau giữa tuyến trục và tuyến ngang, đầu, cuối tuyến được đo bằng các thiết bị trắc địa, xuất phát từ các điểm khống chế có độ chính xác từ đường chuyền kinh vĩ trở lên, với sai số trung phương vị trí mặt phẳng/độ cao điểm công trình là 2,0m/1,0m.
5. Xây dựng mạng lưới khống chế trắc địa phục vụ đo các công trình địa chất, bố trí các điểm cơ sở trên mạng lưới tuyến tuân thủ theo nguyên tắc tuần tự từ cấp cao xuống cấp thấp; tùy vào điều kiện địa hình và địa vật trong khu vực có thể lựa chọn phương pháp đo bằng công nghệ GNSS tĩnh hoặc lưới đường chuyền đo góc cạnh; chỉ tiêu kỹ thuật của các cấp lưới tuân thủ theo quy định đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng về xây dựng lưới khống chế trắc địa.