Điều 24. Thành lập bản đồ phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000
1. Yêu cầu trong công tác phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000
a) Số liệu đầu vào kết quả phân vùng thực hiện theo điểm a và điểm b khoản 1 Điều 21 của Thông tư này;
b) Bản đồ phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000 thể hiện rõ các cấp độ rủi ro từ rất thấp đến rất cao, thể hiện trực quan, dễ sử dụng, hỗ trợ việc ra quyết định phòng ngừa và ứng phó.
2. Thành lập dữ liệu phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét
a) Bản đồ phân vùng hiểm họa sạt lở đất và lũ quét;
b) Kết quả điều tra đặc điểm kinh tế - xã hội, nhân văn của khu vực: phân bố dân cư, thu nhập bình quân đầu người, đặc điểm cơ sở hạ tầng, mức độ ứng phó với thiên tai;
c) Các công trình có giá trị vật thể và phi vật thể khác.
3. Phân tích, thành lập sơ đồ phân vùng tính dễ bị tổn thương phục vụ phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000
a) Phân tích dữ liệu xã hội: thông tin về dân cư (mật độ dân số, độ tuổi, trình độ học vấn), kinh tế, sức khỏe, mức sống và các yếu tố liên quan đến khả năng ứng phó của cộng đồng trước hiểm họa;
b) Phân tích dữ liệu cơ sở hạ tầng: tình trạng các công trình công cộng, nhà ở, giao thông, điện, nước và các dịch vụ thiết yếu;
c) Xác định các chỉ số tính dễ bị tổn thương và lượng hóa các chỉ số đại diện cho mức độ dễ bị tổn thương như:
- Yếu tố kinh tế: thu nhập, sự phát triển kinh tế của khu vực;
- Yếu tố xã hội: phân bổ dân cư, tỷ lệ nghèo, tình trạng sức khỏe, giáo dục.
d) Các chỉ số này có thể khác nhau tùy thuộc vào loại hiểm họa (sạt lở đất hoặc lũ quét);
đ) Phân tích không gian: ứng dụng công cụ GIS để chồng ghép các lớp dữ liệu (địa hình, mật độ dân cư, hạ tầng) nhằm xác định các khu vực có tính dễ bị tổn thương cao;
e) Phân loại và lập sơ đồ mức độ dễ bị tổn thương: dựa trên các chỉ số tổng hợp, chia khu vực thành 5 mức độ dễ bị tổn thương: rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao.
4. Phân tích, lập sơ đồ phân vùng mức độ phơi bày phục vụ phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000
a) Thu thập dữ liệu ban đầu về tài sản và cơ sở hạ tầng: thống kê và lập danh sách các công trình, nhà ở, cơ sở sản xuất, đường giao thông, trường học, bệnh viện, và các dịch vụ công cộng khác;
b) Dữ liệu về dân cư: số lượng, phân bố, mật độ dân số cùng với các yếu tố xã hội như mức thu nhập và tình trạng sức khỏe:
- Phân tích không gian: ứng dụng công cụ GIS để phân tích dữ liệu không gian, chồng ghép các lớp thông tin liên quan đến tài sản, dân cư;
- Phân loại và lập sơ đồ: dựa vào các phân tích đã thực hiện, chia khu vực thành 5 mức độ phơi bày: rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao về người và kinh tế.
5. Xây dựng bản đồ rủi ro về sạt lở đất, lũ quét:
a) Ứng dụng GIS để tổng hợp kết quả bản đồ phân vùng hiểm họa sạt lở đất, lũ quét, sơ đồ phân vùng mức độ phơi bày, sơ đồ phân vùng tính dễ bị tổn thương từ đó xây dựng bản đồ tổng hợp thể hiện mức độ rủi ro do sạt lở đất, lũ quét;
b) Phân bậc cấp độ rủi ro thành 5 mức: rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao;
c) Lập báo cáo kết quả và báo cáo thuyết minh bản đồ rủi ro do sạt lở đất, lũ quét.
6. Sản phẩm:
a) Báo cáo kết quả phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét;
b) Bản đồ phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000 và thuyết minh kèm theo.