Điều 8. Ngôn ngữ và hình thức trình bày tài liệu giáo dục địa phương
1. Ngôn ngữ sử dụng trong tài liệu là tiếng Việt, bảo đảm các quy định về chính tả và ngữ pháp, diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, thể hiện chính xác nội dung cần trình bày và phù hợp với lứa tuổi học sinh. Các chữ viết tắt, ký hiệu, phiên âm, đơn vị đo phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
2. Hình thức trình bày tài liệu bảo đảm cân đối, hài hòa giữa kênh chữ và kênh hình, hệ thống ký hiệu, biểu tượng, kiểu chữ, cỡ chữ và các minh họa như tranh, ảnh, bảng, biểu, đồ thị, bản đồ, hình vẽ phải rõ ràng, thẩm mỹ, phù hợp với nội dung chủ đề học tập và lứa tuổi học sinh.
3. Quy định về trang bìa, thông tin xuất bản và quy cách kỹ thuật:
a) Việc trình bày trang bìa và thông tin xuất bản phải tuân thủ quy định của pháp luật về xuất bản và tiêu chuẩn quốc gia đối với xuất bản phẩm;
b) Nội dung hiển thị trên trang bìa bảo đảm tính thống nhất và chính xác, trong đó Trang bìa 1 ghi đầy đủ tên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo và tên tài liệu theo cấu trúc “Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh/thành phố... Lớp...”; Trang bìa 2 ghi tên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo và danh sách Ban biên soạn tài liệu;
c) Quy cách kỹ thuật về khổ giấy, định lượng giấy, công nghệ in và đóng cuốn bảo đảm độ bền, tính thẩm mỹ, phù hợp với điều kiện sử dụng của học sinh.
4. Việc sử dụng hình ảnh, bản đồ, dữ liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong tài liệu giáo dục địa phương phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
5. Đối với tài liệu giáo dục địa phương dưới dạng điện tử phải bảo đảm các tiêu chuẩn về giao diện, yêu cầu kỹ thuật, tính năng tương tác, hạ tầng và bảo mật theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với sách giáo khoa và học liệu điện tử.