Điều 11. Quy trình chỉnh sửa, cập nhật tài liệu giáo dục địa phương
1. Tài liệu giáo dục địa phương được rà soát định kỳ ít nhất 05 (năm) năm một lần hoặc rà soát, chỉnh sửa đột xuất khi có sự thay đổi về Chương trình giáo dục phổ thông, quy định pháp luật, địa giới hành chính, số liệu thực tế hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
2. Căn cứ kết quả rà soát, Sở Giáo dục và Đào tạo trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương thức thực hiện theo một trong hai trường hợp sau:
a) Chỉnh sửa mang tính kỹ thuật: Áp dụng đối với việc cập nhật số liệu, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đính chính sai sót hoặc điều chỉnh diễn đạt không làm thay đổi mục tiêu và yêu cầu cần đạt của bài học, chủ đề trong tài liệu giáo dục địa phương;
b) Biên soạn, thẩm định lại: Áp dụng đối với tài liệu có sự thay đổi lớn về mục tiêu, yêu cầu cần đạt hoặc các mạch nội dung giáo dục của địa phương theo định hướng trong Chương trình giáo dục phổ thông dẫn đến phải thay đổi cấu trúc và nội dung cơ bản của tài liệu.
3. Đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì lấy ý kiến chuyên gia, Ban biên soạn (nếu có) và các cơ quan liên quan để hoàn thiện nội dung chỉnh sửa; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản chấp thuận điều chỉnh hoặc phụ lục đính chính.
4. Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, quy trình biên soạn, dạy thực nghiệm, lấy ý kiến và thẩm định được thực hiện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 13 Thông tư này.
5. Hồ sơ đề nghị thẩm định thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Thông tư này, trong đó:
a) Bản mẫu tài liệu là bản đã được chỉnh sửa, hoàn thiện sau dạy thực nghiệm và tiếp thu ý kiến góp ý;
b) Báo cáo thuyết minh theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này phải nêu rõ các nội dung điều chỉnh, bổ sung so với tài liệu hiện hành và kết quả dạy thực nghiệm nội dung chỉnh sửa.