Điều 7. Nguyên tắc quản lý và trách nhiệm của đơn vị quản lý tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh là tài sản cố định
1. Tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh phải được quản lý chặt chẽ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan. Các chỉ tiêu về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh là số nguyên; trường hợp kết quả xác định các chỉ tiêu này là số thập phân thì được làm tròn số theo quy định về sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn tại pháp luật về kế toán.
2. Mỗi một tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh quy định tại Điều 6 Thông tư này là một đối tượng ghi sổ kế toán. Kế toán tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh phải phản ánh, ghi chép đầy đủ thông tin về nguyên giá, hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản theo quy định.
3. Tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa tính đủ hao mòn hoặc chưa trích khấu hao hết giá trị theo quy định thì đơn vị quản lý tài sản vẫn phải tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và tính hao mòn theo quy định tại Thông tư này cho đến khi được xử lý theo quy định; không phải trích khấu hao.
4. Tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn tiếp tục sử dụng được thì đơn vị quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, sử dụng, theo dõi, bảo quản tài sản theo quy định hiện hành và không phải tính hao mòn, trích khấu hao. Trường hợp tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh đã tính đủ hao mòn, trích khấu hao hết giá trị nhưng sau đó thuộc trường hợp thay đồi nguyên giá theo quy định tại Điều 9 Thông tư này thì phải tính hao mòn, trích khấu hao tài sản theo quy định của pháp luật cho thời gian sử dụng còn lại (nếu có) sau khi thay đổi nguyên giá.
5. Trường hợp thuê doanh nghiệp thẩm định giá để xác định nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh theo quy định tại Thông tư này thì việc sử dụng chứng thư thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
6. Trường hợp thành lập Hội đồng để xác định giá trị tài sản, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản theo quy định tại Thông tư này thì thực hiện như sau:
a) Đơn vị quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thành lập, kết quả xác định, đánh giá lại của Hội đồng.
b) Thành phần Hội đồng được thành lập gồm: Đơn vị quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản có tối thiểu 03 thành viên trong Hội đồng (trong đó: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu đơn vị quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản hoặc người được ủy quyền; đại diện các bộ phận chuyên môn có liên quan của đơn vị quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản là thành viên); các thành viên khác là đại diện các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu cần). Trường hợp cần thiết thì Hội đồng thuê tổ chức có chức năng tư vấn về giá để tư vấn xác định giá.
c) Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng như sau:
Tùy theo tính chất, đặc điểm, thực trạng của tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại, Hội đồng thực hiện khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại, bằng ít nhất một trong các hình thức sau: Khảo sát giá thị trường theo giá bán buôn, giá bán lẻ của tài sản cùng loại hoặc tài sản tương tự; nghiên cứu giá tài sản do các cơ quan nhà nước có thầm quyền quy định, quyết định đã được áp dụng tại địa phương; tham khảo giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp, giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản, các nguồn thông tin khác về giá trị của tài sản cần xác định giá trị, đánh giá lại giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại.
Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể. Phiên họp để xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản chỉ được tiến hành khi có mặt từ 2/3 số lượng thành viên của Hội đồng trở lên tham dự; trường hợp Hội đồng chỉ có 03 thành viên thì phiên họp phải có mặt đủ 03 thành viên. Chủ tịch Hội đồng điều hành phiên họp để xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản. Trước khi tiến hành phiên họp, những thành viên vắng mặt phải có văn bản gửi tới Chủ tịch Hội đồng nêu rõ lý do văng mặt; có ý kiến về các vấn đề liên quan đến giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản.
Hội đồng kết luận về giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản, theo ý kiến đa số bao gồm ý kiến biểu quyết, thông qua của thành viên Hội đồng có mặt tại phiên họp và ý kiến bằng văn bản của thành viên vắng mặt. Trong trường hợp có số lượng ý kiến ngang nhau thì bên có biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định. Thành viên của Hội đồng có quyền bảo lưu ý kiến của mình nếu không đồng ý với kết luận về giá trị, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản do Hội đồng quyết định; ý kiến bảo lưu đó được ghi vào Biên bản xác định giá, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản.
Hội đồng phải lập Biên bản về việc xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản, trong đó phản ánh đầy đủ và trung thực toản bộ quá trình xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng đề tính hao mòn còn lại của tài sản.
Nội dung chính của Biên bản xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản gồm: Họ, tên Chủ tịch Hội đồng và các thành viên của Hội đồng; họ, tên những người tham dự phiên họp xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản (nếu có); thời gian, địa điểm tiến hành việc xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản; kết quả khảo sát giá trị của tài sản; ý kiến của các thành viên Hội đồng; ý kiến của những người tham dự phiên họp (nếu có); kết quả biểu quyết của Hội đồng; thời gian, địa điểm hoàn thành việc xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản; chữ ký của Chủ tịch Hội đồng và các thành viên của Hội đồng tham dự phiên họp.
Hội đồng xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản, thời gian sử dụng để tính hao mòn còn lại của tài sản được thành lập bằng Quyết định thành lập Hội đồng và chấm dứt hoạt động sau khi hoàn thành nhiệm vụ quy định tại Quyết định thành lập Hội đồng. Các trường hợp phát sinh liên quan đến xác định giá trị, đánh giá lại giá trị tài sản sau khi Hội đồng chấm dứt hoạt động sẽ do đơn vị quản lý tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ lập phương án xử lý tài sản chủ trì xử lý.
7. Trường hợp cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng công viên thì đơn vị quản lý tài sản tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi và tính hao mòn tài sản theo quy định tại Thông tư này trong thời gian cho thuê quyền khai thác tài sản.
8. Trường hợp chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng công viên thì trong thời gian chuyển nhượng, đơn vị quản lý tài sản (bên chuyển nhượng):
a) Có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và hợp đồng chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản.
b) Không thực hiện tính hao mòn tài sản theo quy định tại Thông tư này nhưng phải tiếp tục theo dõi nguyên giá tài sản đã hạch toán tại thời điểm chuyển nhượng trên sổ kế toán và trình bày trên Thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán hiện hành.
c) Khi hết thời hạn chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng công viên (bao gồm cả trường hợp chẩm dứt hợp đồng trước hạn), đơn vị quản lý tài sản tiếp nhận lại tài sản theo hợp đồng chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản và quy định của pháp luật; xác định lại nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản theo quy định tại khoản 6 Điều 8, Điều 16 Thông tư này để thực hiện quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định tại Thông tư này.
9. Đơn vị quản lý tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh có trách nhiệm lập hồ sơ, thống kê, kiểm kê, đánh giá lại, báo cáo tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh theo quy định tại Chương III của Thông tư này.
10. Các khoản chi phí có tính chất định kỳ phát sinh trong quá trình sử dụng nhằm duy trì hoạt động của tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh (như: Chi phí bảo trì, bảo dưỡng, duy tu ... ) thì không xác định vào nguyên giá tài sản.
11. Trường hợp đơn vị tiếp nhận tài sản kết cấu hạ tầng công viên, cây xanh được xử lý theo hình thức chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định tại khoản 16, khoản 17 Điều 5 Luật số 56/2024/QH15 thì thực hiện xác định nguyên giá, tính hao mòn, giá trị còn lại đối với tài sản nhận chuyển giao theo quy định tại Thông tư này từ khi tiếp nhận chuyển giao đến khi hoàn thành việc xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.