Điều 6. Nguyên tắc bồi thường
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 8 của Quy định này thì được bồi thường.
2. Người bị Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
- Người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp;
- Người được sử dụng đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường theo loại đất của nhóm đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở).
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định hiện hành vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách Nhà nước. Nghĩa vụ tài chính phải khấu trừ bao gồm một khoản, nhiều khoản hoặc tất cả các khoản: tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu hồi, tiền thu từ xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai.
Cơ quan thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm cung cấp cụ thể các khoản tài chính về đất phải nộp của người có đất bị thu hồi trong thời gian không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và hồ sơ đề nghị của Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để làm cơ sở khấu trừ vào tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trường hợp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất thì cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm tiếp tục truy thu số tiền còn lại sau khi đã trừ đi số tiền bồi thường đất, hỗ trợ đất.
4. Diện tích đất được bồi thường, hỗ trợ là diện tích đất sử dụng hợp pháp được xác định trên thực địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của người sử dụng đất. Việc xác định diện tích thực địa - thực tế do các đơn vị có tư cách pháp nhân đo đạc xác định hoặc bản đồ do các cơ quan Nhà nước lập có giá trị hiện đang sử dụng được cấp có thẩm quyền thẩm tra. Trường hợp diện tích đất đo đạc thực tế lớn hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ hợp pháp, thì diện tích, loại đất được tính bồi thường là diện tích ghi trên giấy tờ; phần diện tích tăng lên so với giấy tờ hợp pháp về đất mà người sử dụng đất chứng minh có nguồn gốc sử dụng hợp pháp, không có tranh chấp, được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận thì tùy theo từng thời điểm sử dụng mà xác định diện tích, loại đất để tính bồi thường, hỗ trợ và nghĩa vụ tài chính về đất cho phù hợp với quy định. Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ hợp pháp thì diện tích đất bồi thường là diện tích đo đạc thực tế; phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ghi trên giấy tờ và diện tích đất đo đạc thực tế (không áp dụng cho trường hợp hộ gia đình đã chuyển nhượng nhưng chưa chỉnh lý trên giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất) được hoàn trả lại nghĩa vụ tài chính về đất mà người sử dụng đất đã nộp (nếu có) và được tính trong phương án bồi thường.