Điều 39. Xử lý một số trường hợp cụ thể về cấp đất tái định cư
1. Trường hợp diện tích đất ở hợp pháp bị thu hồi lớn hơn hoặc bằng định mức lô đất tái định cư.
Những hộ có đất đai, nhà, công trình hợp pháp và diện tích đất ở bị thu hồi lớn hơn hoặc bằng định mức lô đất tái định cư theo quy định thì hộ gia đình được giao 1 lô đất tái định cư và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Quy định này. Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, thì UBND các huyện, thành phố nơi có đất bị thu hồi căn cứ vào quỹ đất của địa phương, nhu cầu về đất ở và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, để xem xét đề nghị UBND tỉnh thống nhất giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích của đất ở bị thu hồi và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Quy định này. Trong trường hợp các lô đất tái định cư được giao (bao gồm lô đất tái định cư được giao và lô đất tái định cư được giao thêm) lớn hơn diện tích đất ở hợp pháp bị thu hồi thì phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được giao với diện tích đất ở bị thu hồi hộ gia đình phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại khu tái định cư.
2. Trường hợp diện tích đất ở hợp pháp bị thu hồi nhỏ hơn định mức lô đất tái định cư.
Những hộ có đất đai, nhà, công trình hợp pháp mà diện tích đất ở bị thu hồi nhỏ hơn định mức lô đất tái định cư theo quy định thì cũng được xem xét giao lô đất tái định cư theo định mức giao đất để xây dựng nhà ở và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Quy định này đối với phần diện tích đất ở hợp pháp bị thu hồi. Phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được giao với diện tích đất ở hợp pháp bị thu hồi hộ gia đình phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại khu tái định cư.
3. Đối với nhà thờ họ tộc, khi Nhà nước thu hồi đất phải di dời nhà thờ thì được bồi thường theo Quy định này và được giao đất mới tại khu tái định cư để xây dựng lại nhà thờ với diện tích bằng diện tích đất xây dựng nhà thờ, nhưng tối đa không quá 100m2 đối với các phường thuộc thành phố Quảng Ngãi, không quá 150m2 đối với các khu vực còn lại và được hỗ trợ di chuyển 3.000.000 đồng/01 nhà thờ họ tộc. Người đứng tên nhà thờ họ tộc phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Quy định này và khoản 2 của Điều này (nếu diện tích đất được giao lớn hơn diện tích đất hợp pháp bị thu hồi).
4. Hộ gia đình có đất đai, nhà, công trình hợp pháp được bố trí tái định cư theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này, nhưng hộ gia đình có nguyện vọng tái định cư tự do thì được hỗ trợ một khoản bằng tiền tương đương theo giá bình quân suất đầu tư của một lô đất tái định cư, nhưng tối đa không quá 100 triệu đồng/hộ (đối với các phường thuộc thành phố), không quá 60 triệu đồng/hộ (đối với thị trấn các huyện đồng bằng và xã Nghĩa Dũng, Nghĩa Dõng thuộc thành phố Quảng Ngãi), không quá 40 triệu đồng/hộ (đối với thị trấn thuộc huyện Nghĩa Hành, thị trấn các huyện miền núi và các xã thuộc huyện đồng bằng), không quá 25 triệu đồng/hộ (đối với các xã còn lại thuộc huyện Nghĩa Hành, các xã thuộc huyện miền núi và hải đảo) và phải khấu trừ chênh lệch giữa diện tích đất tái định cư theo định mức với diện tích đất ở thực tế bị thu hồi theo quy định tại khoản 2 của Điều này (nếu có).
5. Hộ gia đình đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định tại Điều 21 của Quy định này; những trường hợp chỉ được hỗ trợ nhà, công trình theo quy định tại tiết b điểm 2.1, tiết a, b điểm 2.2 và điểm 2.3 khoản 2 Điều 20 và trường hợp không thoả mãn 3 điền kiện quy định tại khoản 1 Điều 38 của Quy định này, nếu được UBND cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận không còn chỗ ở nào khác thì tùy theo từng trường hợp cụ thể mà Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đề xuất để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường xem xét, quyết định giao đất để làm nhà ở tại khu tái định cư cho từng trường hợp cụ thể. Hộ gia đình được giao đất để làm nhà ở phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại khu tái định cư.
Thẩm quyền quyết định mức hỗ trợ tái định cư bằng hình thức giao đất mới tại khu tái định cư hoặc mức hỗ trợ tái định cư tự do bằng tiền quy định tại khoản 4, 5 của Điều này do cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định trên cơ sở đề nghị của Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.