Điều 21. Chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước
1. Chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước
a) Chế độ báo cáo:
- Báo cáo đột xuất: báo cáo những vụ việc lộ, lọt, mất bí mật Nhà nước xảy ra hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, gây phương hại đến an ninh quốc gia hoặc lợi ích của Nhà nước. Báo cáo phải nêu đầy đủ, cụ thể tình tiết của sự việc xảy ra và các biện pháp khắc phục hậu quả, truy xét ban đầu;
- Báo cáo định kỳ: báo cáo toàn diện hàng năm về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước tại cơ quan, tổ chức, địa phương từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 và gửi báo cáo về Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước trước ngày 05 tháng 01 năm sau.
b) Việc gửi báo cáo: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức và các quận, huyện phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trong phạm vi mình quản lý theo quy định, cụ thể như sau:
- Báo cáo của cơ quan, tổ chức và các quận, huyện gửi cấp trên trực tiếp, đồng thời gửi UBND và cơ quan Công an cùng cấp (Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước);
- Báo cáo của UBND thành phố gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Công an.
2. Sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước
Ban chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh bảo vệ Bí mật Nhà nước thành phố chịu trách nhiệm giúp UBND thành phố hàng năm tổ chức sơ kết và năm năm một lần tổ chức tổng kết về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn thành phố. Việc gửi báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn thành phố thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.