vanban.org

Điều 20. Thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật Nhà nước . — Quyết định 66/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/02/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/02/2016 Thay thế: 07/2016/QĐ-UBND · 16/02/2016
Đà Nẵng Ban hành 06/12/2007 Hiệu lực 16/12/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 02/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng · 02/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 07/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 07/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 66/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 66/2007/QĐ-UBND
26/02/201607/2016/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 16/12/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 66/2007/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20. Thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật Nhà nước .

Thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất đối với từng vụ, việc hoặc đối với từng cá nhân, từng bộ phận công tác, từng cơ quan, tổ chức trên địa bàn thành phố.

1. Ban Chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước của thành phố có nhiệm vụ giúp Chủ tịch UBND thành phố tổ chức kiểm tra, thanh tra Nhà nước về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước đối với cơ quan, tổ chức và các quận, huyện. Việc kiểm tra định kỳ phải được tiến hành ít nhất 02 năm một lần, chú ý những nơi trọng điểm có bí mật Nhà nước.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức và các quận, huyện thực hiện việc kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước định kỳ hoặc đột xuất đối với từng đơn vị trong phạm vi quản lý của mình. Việc kiểm tra định kỳ phải được tiến hành ít nhất 01 năm một lần, nhất là với những đơn vị trọng điểm có bí mật Nhà nước.

3. Co quan Trung ương đóng trên địa bàn thành phố phải chịu trách nhiệm về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trước Chủ tịch UBND thành phố và Thủ trưởng cơ quan chủ quản cấp trên, đồng thời tạo điều kiện để Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước cấp thành phố kiểm tra ít nhất 02 năm một lần.

4. Thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước phải đánh giá đúng những ưu điểm, khuyết điểm; phát hiện những thiếu sót, sơ hở và kiến nghị các biện pháp khắc phục. Sau mỗi lần thanh tra, kiểm tra phải báo cáo cơ quan chủ quản cấp trên, đồng thời gửi cho cơ quan Công an cùng cấp để theo dõi.