Điều 32. Phương pháp bình xét
1. Việc bình xét được thực hiện bằng hình thức giơ tay biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín. Riêng đối với danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh”, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp toàn quốc”, danh hiệu “Tập thể Lao động xuất sắc”, các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, khi bình xét bắt buộc phải bằng hình thức bỏ phiếu kín.
2. Cá nhân, tập thể được chọn đề nghị khen thưởng phải có ý kiến đồng ý của các thành viên Hội đồng từ 70% trở lên, tính trên tổng số thành viên của Hội đồng (nếu thành viên Hội đồng vắng mặt thì lấy ý kiến bằng văn bản). Riêng đối với các danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh”, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” và danh hiệu vinh dự nhà nước phải có số phiếu đồng ý của các thành viên Hội đồng từ 90% trở lên, tính trên tổng số thành viên của Hội đồng (nếu thành viên Hội đồng vắng mặt thì lấy ý kiến bằng văn bản).Việc bình xét phải được ghi thành biên bản.
3. Trong xét khen thưởng tổng kết năm, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa đối tượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Trên cơ sở so sánh thành tích giữa các cá nhân có cùng chức trách nhiệm vụ được giao, phân định thành các nhóm để xét như sau:
Nhóm 1: Cán bộ, công chức viên chức giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt của cơ quan, đơn vị, địa phương (Giám đốc, Phó Giám đốc và tương đương).
Nhóm 2: Công chức viên chức giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và tương đương.
Nhóm 3: Công chức viên chức không giữ chức vụ (chuyên viên, cán sự, nhân viên, công nhân, người lao động).
Tỷ lệ khen thưởng giữa các nhóm phải đảm bảo: nhóm 1 chiếm không quá 30%, nhóm 2 chiếm không quá 30% và nhóm 3 chiếm không quá 40% trong tổng số cá nhân được tặng thưởng và đề nghị tặng thưởng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng ở cơ sở và cấp tỉnh.
4. Các trường hợp không xét khen thưởng:
a) Đối với tập thể:
- Không đăng ký thi đua;
- Đảng bộ, chi bộ, công đoàn cơ sở, tổ công đoàn đạt loại yếu kém;
- Để xảy ra điểm nóng ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
- Để xảy ra lãng phí, tham nhũng gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước;
- Có công chức, viên chức, người lao động sinh con thứ ba trở lên, trừ 07 trường hợp sinh con thứ ba được quy định tại Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về việc hướng dẫn, bổ sung Pháp lệnh Dân số (sau đây viết tắt là Nghị định số 20/2010/NĐ-CP);
- Vi phạm quy chế dân chủ ở cơ sở; nội bộ mất đoàn kết (căn cứ kết luận của cơ quan có thẩm quyền).
- Có cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.
- Chưa xét thi đua đối với những đơn vị có dấu hiệu sai phạm đang chờ cơ quan có thẩm quyền kết luận.
b) Đối với cá nhân:
- Không đăng ký thi đua; làm việc theo chế độ hợp đồng ngắn hạn dưới 01 năm; mới tuyển dụng dưới 10 tháng; nghỉ việc từ 40 ngày làm việc trở lên (trừ chế độ nghỉ phép năm; nghỉ thai sản; nghỉ để điều trị, điều dưỡng theo kết luận của cơ quan y tế do bị thương tích trong lúc cứu người, cứu tài sản, trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu);
- Vi phạm kỷ luật dưới mọi hình thức; hoặc có thư phản ánh của địa phương nơi cư trú về việc không chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước hoặc các vi phạm khác (nếu nội dung phản ảnh được xác minh là đúng);
- Sinh con thứ ba trở lên, và không xét thi đua 03 năm liên tục tính từ năm sinh con thứ ba trở lên, trừ 07 trường hợp sinh con thứ ba được quy định tại Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP;
- Gây tai nạn giao thông lỗi thuộc về cán bộ, công chức, viên chức; để lộ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
Hồ sơ đề nghị khen thưởng không đúng thời gian, báo cáo thành tích không thể hiện đầy đủ các nội dung theo quy định.