Điều 13 . Thẩm quyền giải quyết đơn tranh chấp đất đai, đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai và đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết lần đầu đối với đơn tranh chấp đất đai và đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai theo khoản 2, Điều 136 và khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai năm 2003; giải quyết lần thứ 2 đối với các đơn khiếu nại theo quy định tại Điều 23 của Luật Khiếu nại - Tố cáo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và Điều 14 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thị giải quyết lần đầu đối với đơn tranh chấp đất đai, đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai theo điểm a, khoản 2, Điều 136 và điểm a, khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai năm 2003; giải quyết đơn khiếu nại quyết định hành chính theo quy định tại Điều 20 của Luật Khiếu nại - Tố cáo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và Điều 12 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giải quyết đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền quy định tại Điều 19 của Luật Khiếu nại - Tố cáo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và Điều 10 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Giải quyết đơn khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp. Đồng thời, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải các loại tranh chấp đất đai ở cơ sở.
4. Đối với đơn tranh chấp, đơn khiếu nại thuộc quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 là thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân các cấp. Cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại nộp đơn tại Tòa án để giải quyết theo thẩm quyền quy định của pháp luật.