vanban.org

Điều 23. Xử lý một số trường hợp bồi thường, hỗ trợ về đất — Quyết định 4166/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/02/2010 Thay thế: 499/2010/QĐ-UBND · 11/02/2010
Quảng Ninh Ban hành 18/12/2009 Hiệu lực 28/12/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 4166/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Xử lý một số trường hợp bồi thường, hỗ trợ về đất

1. Đối với đất ở: Diện tích đất ở còn lại quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 197/2004/NĐ-CP được xử lý như sau:

a) Diện tích đất còn lại sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép xây dựng nhà ở, nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định tại bản quy định này.

b) Trường hợp diện tích đất ở còn lại lớn hơn diện tích tối thiểu được phép xây dựng nhà ở nhưng không phù hợp với quy hoạch hoặc không đủ điều kiện để xây dựng nhà ở thì được bồi thường, hỗ trợ theo bản quy định này.

2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở hoặc diện tích đất ở còn lại không đủ diện tích xây dựng nhà ở theo quy định nhưng phần diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề với đất ở còn lại phù hợp với qui hoạch thì được phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của UBND tỉnh về hạn mức đất ở và thực hiện tái định cư tại chỗ. Hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với Nhà nước.

3. Đối với đất nông nghiệp: diện tích đất nông nghiệp còn lại không còn điều kiện để canh tác thì được bồi thường hoặc hỗ trợ theo Bản quy định này. Diện tích đất nông nghiệp còn lại đủ hay không đủ điều kiện để canh tác do UBND cấp huyện xác định.

4. Diện tích đất ở, đất nông nghiệp quy định tại Khoản 1 Khoản 2 và Khoản 3 Điều này sau khi đã bồi thường, hỗ trợ giao cho UBND cấp xã quản lý. Trường hợp các hộ tự chuyển nhượng cho nhau thì không được bồi thường, không được hỗ trợ.

5. Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ Như sau:

a) Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà phần diện tích thiếu này không do chuyển nhượng, cho tặng, có ranh giới rõ ràng và người sử dụng đất đã nộp thuế hàng năm đầy đủ với Nhà nước thì phần diện tích thiếu đó được hỗ trợ bằng 70% theo đơn giá bồi thường đất nông nghiệp; nếu có nộp thuế cho Nhà nước nhưng nộp không đầy đủ thì chỉ được hỗ trợ 50% theo giá bồi thường đất nông nghiệp. Nếu không nộp thuế thì không được hỗ trợ.

b) Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì thực hiện như quy định tại khoản 2, 3 và khoản 4 Điều 47 Nghị định 84/2007/NĐ- CP.

6. Đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sử dụng ổn định lâu dài mang tên một chủ hộ (hộ chính chủ). Tại thời điểm có quyết định thu hồi đất các cặp vợ chồng đã tách hộ và đang sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp mang tên hộ chính chủ tại thời điểm có Quyết thu hồi đất thì UBND cấp xã xác nhận làm cơ sở để bồi thường, hỗ trợ cho các cặp vợ chồng đã tách hộ (nếu hộ chính chủ đồng ý).

7. Diện tích đất ngoài phạm vi thu hồi theo quyết định thu hồi đất, trong quá trình thi công dự án bị ảnh hưởng như ngập úng, vùi lấp… thì chủ dự án có trách nhiệm khôi phục lại hiện trạng như cũ, nếu không khôi phục được thì báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất tạm thời và thực hiện bồi thường như Điều 24 Bản quy định này.