Điều 11. Xử lý văn bản được rà soát
1. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được rà soát cần phải xử lý theo các hình thức quy định tại Điều 143 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và khoản 3 Điều 2 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, cơ quan rà soát văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp; gửi báo cáo kết quả rà soát đến Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp để theo dõi.
Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân, các cơ quan có trách nhiệm rà soát, phối hợp với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp xây dựng dự thảo văn bản trình cơ quan có thẩm quyền xử lý kết quả rà soát.
Xây dựng văn bản bãi bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung văn bản được rà soát hoặc ban hành văn bản mới thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 và các văn bản khác có liên quan.
2. Đối với việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, cơ quan rà soát văn bản, phối hợp với các Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp trước khi tham mưu Ủy ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân xem xét, xử lý kết quả rà soát.
3. Kết quả rà soát, nếu văn bản quy phạm pháp luật được rà soát hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, cơ quan rà soát văn bản phải tổng hợp vào Danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo Mẫu số 03, Mẫu số 04 của Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, đã được bổ sung tại điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, gửi cơ quan Tư pháp cùng cấp để tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp công bố định kỳ hằng năm theo quy định tại Điều 12 Quy chế này.
Trường hợp văn bản quy định chi tiết hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì lập Danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo Mẫu số 03, Mẫu số 04 của Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, đã được bổ sung tại điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP và đề nghị cơ quan có thẩm quyền công bố theo quy định tại Điều 13 Quy chế này.