vanban.org

Điều 6. Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân — Quyết định 3336/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/12/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 19/04/2011 Thay thế: 42/2014/QĐ-UBND · 19/12/2014
Cao Bằng Ban hành 31/12/2009 Hiệu lực 10/01/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 6 đời quyết định · 11 phiên bản · 18 năm
Quyết định 30/2026/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 30/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 54/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 54/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 14/2020/QĐ-UBND
Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 42/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 3336/2009/QĐ-UBND Ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 3336/2009/QĐ-UBND
19/04/2011638/2011/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 10/01/2010Bản gốcThay thế
Quyết định số 2872/2007/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 2872/2007/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 3336/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Thực hiện theo Điều 16 Nghị định 69 và Điều 6 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng.

3. Đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp khác.

4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:

a) Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;

b) Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

5. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản do nhận khoán của các nông - lâm trường quốc doanh, tổ chức nhà nước (trừ đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất và được hỗ trợ theo quy định sau:

Từ ngày nhận giao khoán đất đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cứ 1 năm (trên 6 tháng được tính tròn 1 năm) được hỗ trợ 5% giá đất theo Bảng giá đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cùng mục đích sử dụng (nhưng mức hỗ trợ tối đa không vượt quá 75% giá đất bồi thường).

7. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đã được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quản lý, Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giao khoán cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân khoanh nuôi tái sinh rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng hoặc trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước theo hợp đồng khoán thì khi Nhà nước thu hồi đất, hộ gia đình, cá nhân không được bồi thường, hỗ trợ về đất, nhưng được bồi thường về cây trồng trên đất theo quy định.

8. Trường hợp đất lâm nghiệp do hộ gia đình, cá nhân trước đây đã quản lý sử dụng sau đó đưa vào các nông, lâm trường, hoặc Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng để hưởng lợi từ việc khoanh nuôi tái sinh rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng hoặc trồng rừng hoặc bảo vệ rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, được tổ chức giao nhận và Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thì diện tích bị thu hồi được tính hỗ trợ như quy định tại khoản 6 Điều này.

9. Trường hợp thu hồi đất lâm nghiệp do hộ gia đình, cá nhân tự khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng trước ngày Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành quy định v/v giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (ngày 15 tháng 01 năm 1994) thì được hỗ trợ về đất; mức hỗ trợ tối đa bằng giá đất lâm nghiệp tương ứng do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định.