Điều 24. Các trường hợp được bố trí tái định cư
1. Hộ gia đình cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở (chỉ xét giao đất tái định cư đối với các hộ gia đình, cá nhân có nhà ở, đất ở hợp pháp bị thu hồi có một trong các điều kiện quy định tại Điều 8 Nghị định số 197, Điều 18 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT) thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở (không còn chỗ ở) mà không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư);
b) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để làm nhà ở theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh và không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn, phải di chuyển chỗ ở mà không còn có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;
d) Các trường hợp đặc biệt do Uỷ ban nhân dân huyện, thị xem xét giải quyết cho từng trường hợp cụ thể.
2. Không xét giao đất tái định cư cho các chủ sử dụng nhà ở, đất ở bị thu hồi một phần đất ở có trong trường hợp:
a) Diện tích đất ở bị thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Uỷ ban Nhân dân tỉnh;
1. Hộ gia đình cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở (chỉ xét giao đất tái định cư đối với các hộ gia đình, cá nhân có nhà ở, đất ở hợp pháp bị thu hồi có một trong các điều kiện quy định tại Điều 8 Nghị định số 197, Điều 18 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT) thì được bố trí tái định cư trong các trường hợp sau:
d) Các trường hợp đặc biệt do Uỷ ban nhân dân huyện, thị xem xét giải quyết cho từng trường hợp cụ thể và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.
2. Không xét giao đất tái định cư cho các chủ sử dụng nhà ở, đất ở bị thu hồi một phần đất ở trong trường hợp:
a) Diện tích thửa đất ở bị thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
b) Diện tích đất ở còn lại ngoài chỉ giới giải phóng mặt bằng lớn hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh;
c) Trường hợp đặc biệt do Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã xem xét giải quyết cho từng trường hợp cụ thể.
3. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ở mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã xem xét, giải quyết giao đất ở mới theo quy định hoặc xem xét giải quyết hỗ trợ tái định cư.
4. Căn cứ quỹ đất, nhà tái định cư hiện có (số lượng, diện tích), cơ quan (tổ chức) được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định cư có trách nhiệm ban hành quy chế bố trí, sắp xếp tái định cư cho dự án. Quy chế này phải đảm bảo công khai, công bằng, phù hợp với các quy định của pháp luật. Ưu tiên tái định cư tại chỗ cho người bị thu hồi nhà ở, đất ở tại nơi có dự án tái định cư.