Điều 10. Xác định và đóng dấu độ mật đối với bí mật nhà nước
1. Căn cứ vào danh mục bí mật nhà nước của ngành dọc Trung ương hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh và văn bản quy định độ mật đối với từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước của cơ quan, đơn vị mình, người soạn thảo phải đề xuất độ mật cụ thể đối với văn bản do mình trực tiếp soạn thảo tại tờ trình duyệt ký văn bản; người duyệt ký có trách nhiệm kiểm tra, quyết định độ mật, số lượng bản và phạm vi lưu hành (được ghi tại mục “Kính gửi” hoặc “Nơi nhận”) của văn bản, tài liệu do mình duyệt ký; văn thư có trách nhiệm đóng dấu độ mật lên văn bản, tài liệu đúng theo độ mật do người duyệt ký quyết định.
2. Đối với bí mật nhà nước được lưu giữ trong hồ sơ, phương tiện, thiết bị, người trực tiếp quản lý, lưu giữ có trách nhiệm xác định và đóng dấu độ mật hoặc dán nhãn có đóng dấu độ mật ở bên ngoài theo độ mật cao nhất của tài liệu được lưu giữ bên trong hồ sơ, phương tiện, thiết bị mang bí mật nhà nước.
3. Dấu chỉ độ mật đóng trên văn bản, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải có màu đỏ tươi và phải đóng đúng vị trí quy định tại Phụ lục III kèm theo Thông tư số 33/2015/TT-BCA ngày 20/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước (sau đây gọi tắt là Thông tư số 33/2015/TT-BCA và Nghị định số 33/2002/NĐ-CP).