Điều 9. Ghi nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ
1. Đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ
a) Hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất, được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 6 và Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (sau đây gọi là Nghị định 198/2004/NĐ-CP); khoản 4 và khoản 5 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 198/2004/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 120/2010/NĐ-CP) mà chưa có khả năng tài chính để nộp tiền sử dụng đất có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi "nợ tiền sử dụng đất" trên Giấy chứng nhận sau khi có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất hoặc hồ sơ giao đất tái định cư.
Khi thanh toán nợ, người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả nợ dần khi có khả năng về tài chính trong thời hạn tối đa là 5 năm; sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm trả nợ.
Đối với trường hợp đã được ghi nợ tiền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 3 năm 2011 (ngày Nghị định số 120/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành) mà chưa thanh toán nợ thì nay được áp dụng quy định về thanh toán nợ tại Quy định này; trong thời hạn tối đa là 5 năm kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, người sử dụng đất được thanh toán nợ tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất do Ủy ban nhân dân thành phố quy định tại thời điểm trả nợ.
b) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản này thì được ghi nợ lệ phí trước bạ.
Giá đất làm căn cứ tính số tiền lệ phí trước bạ là giá đất do Ủy ban nhân dân thành phố quy định tại thời điểm xác định nghĩa vụ tiền sử dụng đất. Khi thanh toán nợ lệ phí trước bạ thì phải nộp lệ phí trước bạ tính theo giá đất do Ủy ban nhân dân thành phố quy định tại thời điểm xác định nghĩa vụ tiền sử dụng đất.
2. Thủ tục ghi nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ
a) Thủ tục ghi nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Thông tư số 93/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP (sau đây gọi là Thông tư 93/2011/TT-BTC).
Chi nhánh Văn phòng đăng ký có trách nhiệm thực hiện thủ tục ghi nợ và xóa nợ tiền sử dụng đất, lập và quản lý Sổ theo dõi nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất theo quy định.
b) Thủ tục ghi nợ và thanh toán nợ lệ phí trước bạ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31 tháng 8 năm 2011 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn về lệ phí trước bạ (sau đây gọi là Thông tư 124/2011/TT-BTC).
3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ khi chuyển nhượng, chuyển đổi nhà, đất đó cho tổ chức, cá nhân khác thì phải nộp đủ số tiền sử dụng đất, số lệ phí trước bạ còn nợ trước khi chuyển nhượng, chuyển đổi.
Trường hợp khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất mà người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất chưa trả nợ tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ thì người nhận thừa kế có trách nhiệm tiếp tục trả nợ theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Trường hợp được Ủy ban nhân dân thành phố giao quyền sử dụng đất ở và cho nợ tiền sử dụng đất thì khi thanh toán nợ không áp dụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, mà thực hiện theo các văn bản quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân thành phố tại thời điểm trả nợ.