Điều 17. Cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân trong trong trường hợp thửa đất ở có vườn ao
Việc xác định diện tích đất ở và cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 87 Luật Đất đai; khoản 2 và khoản 3 Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP; khoản 3 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định 84/2007/NĐ-CP) và Quyết định số 08/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi là Quyết định 08/2008/QĐ-UBND), cụ thể như sau:
1. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này có ghi nhận rõ ranh giới, diện tích thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì diện tích đất vườn, ao đó được xác định là đất ở; trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này thì diện tích đất ở được xác định không quá năm (05) lần hạn mức giao đất ở nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.
2. Trường hợp thửa đất được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 Điều này mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa cũng được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó;
4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở, vườn ao được xác định như sau:
a) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích thửa đất đó được xác định là đất ở.
b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở. Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.
5. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất với mức thu quy định tại khoản 2 Điều 35 của Quy định này.
6. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở và nghĩa vụ tài chính được xác định như sau:
a) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích thửa đất đó được xác định là đất ở và nếu chưa nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất với mức thu quy định tại khoản 2 Điều 35 của Quy định này.
b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định tối đa bằng hạn mức công nhận đất ở và nếu chưa nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích đất ở thì phải nộp tiền sử dụng đất với mức thu quy định tại khoản 2 Điều 35 của Quy định này. Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.
7. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng diện tích đất thực tế lớn hơn so với diện tích theo hồ sơ hoặc giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Quy định này và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 18 của Quy định này, nay được Ủy ban nhân dân phường, xã xác nhận là sử dụng ổn định, không tranh chấp, thì xử lý như sau:
a) Trường hợp sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, mà trong hồ sơ hoặc giấy tờ có ghi rõ diện tích đất ở nhưng diện tích đất thực tế đang sử dụng lớn hơn diện tích trong hồ sơ, giấy tờ thì diện tích đất ở được xác định theo khoản 2 Điều này.
b) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà diện tích đất theo hồ sơ hoặc giấy tờ nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở nhưng diện tích đất thực tế sử dụng lớn hơn diện tích trong hồ sơ, giấy tờ thì diện tích đất ở được xác định tối đa bằng hạn mức công nhận đất ở.
c) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà diện tích đất theo giấy tờ nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở nhưng diện tích đất thực tế sử dụng lớn hơn diện tích trong giấy tờ thì diện tích đất ở được xác định theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.
d) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến nay thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ.