Điều 12. Những trường hợp được chứng nhận quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được chứng nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau:
a) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà chưa được cấp giấy chứng nhận.
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
d) Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
e) Người sử dụng đất quy định tại các Điều 90, 91 và 92 của Luật Đất đai.
g) Người mua nhà ở gắn liền với đất ở.
h) Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.
2. Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại Điều 50 Luật Đất đai.
3. Tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1, 3 và 4 Điều 51 Luật Đất đai.