vanban.org

Điều 49. Phương tiện thông tin liên lạc để trao đổi số liệu khí tượng OPMET: — Quyết định 29/2005/QĐ-BGTVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 02/05/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 02/05/2007 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 12/2007/QĐ-BGTVT · 21/03/2007
Bộ Giao thông vận tải Ban hành 18/05/2005 Hiệu lực 22/09/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 12/2007/QĐ-BGTVT Ban hành Quy chế khí tượng hàng không dân dụng · 12/2007/QĐ-BGTVT
Quyết định số 29/2005/QĐ-BGTVT Ban hành "Quy chế công tác khí tượng hàng không dân dụng Việt Nam" · 29/2005/QĐ-BGTVT
02/05/200712/2007/QĐ-BGTVTBãi bỏ Đang xem 22/09/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 29/2005/QĐ-BGTVT › Chương V › Điều 49
Đọc toàn văn

Điều 49. Phương tiện thông tin liên lạc để trao đổi số liệu khí tượng OPMET:

1. Phương tiện thông tin liên lạc cho trao đổi số liệu OPMET quốc tế là mạng AFTN. Việc phân công trách nhiệm bảo đảm kỹ thuật được xác định như sau:

a) Các trung tâm thông tin thuộc Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam chịu trách nhiệm bảo đảm kỹ thuật cho cổng ghép nối quốc tế, đường truyền và thiết bị khai thác;

b) Mỗi cơ quan khí tượng tại cảng hàng không quốc tế có địa chỉ AFTN đầu cuối độc lập và chịu trách nhiệm bảo đảm kỹ thuật cho thiết bị khai thác đầu cuối.

2. Phương tiện thông tin liên lạc cho: trao đổi số liệu khí tượng giữa cơ quan khí tượng tại cảng hàng không quốc tế với các cảng hàng không, sân bay nội địa phải bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Phương tiện chính cho trao đổi số liệu khí tượng giữa cơ quan khí tượng tại cảng hàng không quốc tế với trạm quan trắc khí tượng các cảng hàng không, sân bay nội địa trực thuộc là AFTN hoặc một phương tiện trực tiếp khác. Thời gian cho việc thiết lập được liên lạc không quá 05 phút;

b) Phương tiện liên lạc bằng vô tuyến (SSB), điện thoại, fax phải được trang bị để sử dụng trong các trường hợp trao đổi số liệu khí tượng giữa các cảng hàng không, sân bay nội địa có hoạt động bay khi hệ thống chính bị sự cố, hoặc khi cần đối thoại trao đổi giữa các nhân viên dự báo khí tượng của cơ quan khí tượng tại cảng hàng không quốc tế với nhân viên khí tượng tại cảng hàng không, sân bay nội địa để thảo luận và giải thích các điều kiện thời tiết nguy hiểm ảnh hưởng đến chuyến bay;

c) Đối với các cảng hàng không, sân bay nội địa có hoạt động bay hàng ngày cần được thiết lập hệ thống liên kết mạng với cơ quan khí tượng tại cảng hàng không quốc tế để có thể truy cập nhận các tin tức khí tượng trực quan như ảnh ra đa, ảnh mây vệ tinh, và các tin tức thời tiết của các cảng hàng không, sân bay khác liên quan.