Điều 25. Trình tự thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
1. Tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh khi có đủ các điều kiện sau đây:
a. Nghĩa vụ bảo lãnh đã đến hạn;
b. Bên nhận bảo lãnh có văn bản đề nghị tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
c. Các tài liệu chứng minh khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, nếu cam kết bảo lãnh có đề cập như là một điều kiện để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Tổ chức tín dụng kiểm tra các tài liệu, nếu phù hợp với cam kết bảo lãnh thì thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
2. Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, tổ chức tín dụng yêu cầu khách hàng thực hiện việc bồi hoàn theo các bước sau:
a. Trường hợp bảo lãnh thông thường
- Tổ chức tín dụng bảo lãnh thông báo cho khách hàng kèm theo các tài liệu liên quan, yêu cầu khách hàng hoàn trả số tiền mà tổ chức tín dụng đã trả thay.
- Sau khi nhận được thông báo của tổ chức tín dụng, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả nợ hoặc có văn bản xác nhận nợ với tổ chức tín dụng về số tiền mà tổ chức tín dụng đã trả thay. Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, nếu khách hàng chưa hoàn trả, hoặc chưa có văn bản xác nhận nợ thì tổ chức tín dụng hạch toán ghi nợ cho khách hàng (ngày hạch toán ghi nợ là ngày tổ chức tín dụng đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho khách hàng). Khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn do các bên thoả thuận nhưng không quá 150% lãi suất trong hợp đồng giữa khách hàng và bên nhận bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh vay vốn) hoặc lãi suất cho vay ngắn hạn mà tổ chức tín dụng đang thực hiện, kể từ ngày tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với số tiền đã trả thay.
- Trường hợp vì lý do khách quan như thiên tai, hoả hoạn, những khó khăn tài chính tạm thời và những lý do khách quan khác hoặc việc trả nợ cho bên nhận bảo lãnh không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh, khách hàng chưa thực hiện được nghĩa vụ đúng hạn với bên nhận bảo lãnh. Trên cơ sở đề nghị của khách hàng trong văn bản xác nhận nợ, tổ chức tín dụng có thể xem xét định lại kỳ hạn trả nợ và áp dụng lãi suất cho vay thông thường đối với số tiền mà tổ chức tín dụng đã trả thay.
- Tổ chức tín dụng bảo lãnh có quyền thực hiện các biện pháp như phát mại tài sản bảo đảm, trích tài khoản của khách hàng (nếu có thoả thuận), khởi kiện ra cơ quan pháp luật và các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm khác theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này để thu hồi số tiền đã trả thay.
b. Trường hợp bảo lãnh đối ứng.
Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng, bên phát hành bảo lãnh đối ứng có quyền yêu cầu khách hàng hoàn trả cho mình số tiền bên phát hành bảo lãnh đối ứng đã trả cho tổ chức tín dụng bảo lãnh. Trình tự thực hiện việc hoàn trả nợ hoặc nhận nợ giữa bên phát hành bảo lãnh đối ứng và khách hàng thực hiện tương tự như quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều này.
c. Trường hợp xác nhận bảo lãnh
Sau khi bên xác nhận bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho bên được xác nhận bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được xác nhận bảo lãnh hoàn trả cho mình số tiền bên xác nhận bảo lãnh đã thanh toán cho bên nhận bảo lãnh. Trình tự thực hiện việc hoàn trả nợ hoặc nhận nợ của bên được xác nhận bảo lãnh đối với bên xác nhận bảo lãnh thực hiện tương tự như quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều này.
d. Đối với trường hợp tổ chức tín dụng bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà nhiều khách hàng cùng tham gia thực hiện thì các bên tham gia có trách nhiệm hoàn trả nợ hoặc nhận nợ với tổ chức tín dụng theo tỷ lệ tương ứng với phần nghĩa vụ của mình trong nghĩa vụ chung. Nếu một trong các bên tham gia không thực hiện được phần nghĩa vụ của mình thì tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bất kỳ bên nào trong số các bên tham gia phải thực hiện phần nghĩa vụ đó. Trình tự thực hiện việc hoàn trả nợ và nhận nợ của các bên tham gia đối với tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều này.
3. Trường hợp bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu thì việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và yêu cầu khách hàng bồi hoàn thực hiện theo quy định của pháp luật về thương phiếu.