Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng xác nhận bảo lãnh
1. Tổ chức tín dụng xác nhận bảo lãnh có quyền:
a. Chấp nhận hoặc từ chối đề nghị xác nhận bảo lãnh của khách hàng hoặc của tổ chức tín dụng tín dụng bảo lãnh;
b. Yêu cầu khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh cung cấp các tài liệu về khả năng tài chính cũng như các tài liệu liên quan đến giao dịch bảo lãnh; báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh; báo cáo tình hình thực hiện các hợp đồng và các nghĩa vụ có liên quan đến giao dịch bảo lãnh;
c. Yêu cầu khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh có bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo lãnh;
d. Thu phí bảo lãnh theo thoả thuận;
đ. Yêu cầu khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh hoàn trả số tiền bảo lãnh mà tổ chức tín dụng đã trả thay;
e. Hạch toán ghi nợ khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh số tiền mà tổ chức tín dụng đã trả thay để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nếu sau 15 ngày kể từ ngày tổ chức tín dụng trả thay mà khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh không nhận nợ;
g. Xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn Nghị định này;
h. Khởi kiện theo quy định của pháp luật khi khách hàng, hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh vi phạm Hợp đồng bảo lãnh.
i. Có thể chuyển nhượng quyền, nghĩa vụ của mình cho tổ chức tín dụng khác quy định tại Điều 3 của Quy chế này nếu được bên nhận bảo lãnh chấp thuận bằng văn bản.
2. Tổ chức tín dụng xác nhận bảo lãnh có nghĩa vụ:
a. Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh;
b. Đôn đốc khách hàng và tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện đầy đủ và đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh;
c. Hoàn trả đầy đủ tài sản bảo đảm (nếu có) và các giấy tờ có liên quan cho khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh khi khách hàng hoặc tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh.