Điều 13. Thông báo kiểm kê hiện trạng
1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất thu hồi lập danh sách người bị thu hồi đất. Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người bị thu hồi đất (mà chỉ sở hữu tài sản gắn liền với đất) thì phải xác định và lập danh sách cả tên người bị thu hồi đất và người sở hữu tài sản gắn liền với đất.
2. Căn cứ theo danh sách đã lập, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường gửi thông báo kiểm kê cho người bị thu hồi đất và người sở hữu tài sản gắn liền với đất. Thông báo kiểm kê phải nêu rõ thời gian dự kiến, địa điểm có mặt để tiến hành kiểm kê hiện trạng và được lập 03 (ba) bản, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giữ 01 (một) bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân phường, xã giữ 01 (một) bản, 01 (một) bản gửi cho người bị thu hồi đất.
Thời gian gởi thông báo kiểm kê phải trước thời gian tiến hành kiểm kê hiện trạng tối thiếu là 10 (mười) ngày.
3. Trường hợp người bị thu hồi đất không có mặt tại địa phương hoặc không xác định được địa chỉ thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất thu hồi niêm yết thông báo kiểm kê tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường, xã và tại các địa điểm sinh hoạt của khu dân cư nơi có đất thu hồi; đồng thời đăng thông báo trên Báo Đà Nẵng trong 03 (ba) kỳ liên tiếp.
Trong thời hạn không quá 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày niêm yết, đăng báo (lần đầu) thông báo kiểm kê mà người bị thu hồi đất không đến liên hệ tại trụ sở của Ủy ban nhân dân phường, xã hoặc Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Ủy ban nhân dân phường, xã nơi có đất thu hồi lập biên bản và thực hiện việc kiểm kê theo diện vắng chủ.