vanban.org

Điều 55. Quy định về xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất — Quyết định 2380/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/10/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 06/10/2016 Thay thế: 64/2016/QĐ-UBND · 26/09/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 38/2012/QĐ-UBND · 09/08/2012
Ninh Thuận Ban hành 21/12/2010 Hiệu lực 31/12/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 8 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 12 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 99/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 99/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 24/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 64/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 2380/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 2380/2010/QĐ-UBND
Quyết định số 375/2008/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ban hành kèm theo Quyết định sồ 363/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận · 375/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2380/2010/QĐ-UBND › Chương VII › Điều 55
Đọc toàn văn

Điều 55. Quy định về xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

1. Sau khi có hồ sơ kiểm kê đất đai, tài sản của các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường chuyển hồ sơ và văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị xác định nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất; hồ sơ gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã gồm có:

- Văn bản đề nghị xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường kèm theo danh sách hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi;

- Tờ khai của người sử dụng đất, hồ sơ kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất; các giấy tờ có liên quan; bản đồ địa chính trích đo của từng hộ gia đình, cá nhân cần phải xác định tính pháp lý về sử dụng đất.

2. Xác định nguồn gốc sử dụng đất và tài sản trên đất: trong thời hạn không quá 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường kèm theo đầy đủ hồ sơ quy định tại khoản 1 của Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo cán bộ địa chính cấp xã phối hợp với Trưởng thôn, khu phố xác minh hồ sơ. Sau khi có kết quả xác minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký xác nhận nguồn gốc đất đai, thời điểm sử dụng đất và thông báo bằng văn bản cho tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường.

3. Xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản trên đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

a) Trong tất cả các trường hợp bị thu hồi đất, người bị thu hồi đất đều phải có giấy xác nhận nguồn gốc nhà đất của Ủy ban nhân dân cấp xã (theo mẫu thống nhất). Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác nhận và chịu trách nhiệm về việc xác nhận trên giấy xác nhận nguồn gốc nhà đất.

Nội dung xác nhận bao gồm: xác nhận về loại đất, diện tích, mục đích sử dụng đất, chủ sử dụng đất, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của phần diện tích thu hồi và phần diện tích nằm ngoài diện tích thu hồi; tổng diện tích đất đang sử dụng;

b) Về nguồn gốc đất:

+ Ghi rõ nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất. Có hoặc không có các giấy tờ hợp lệ về đất cũng phải được thể hiện trong giấy xác nhận nguồn gốc nhà đất. Trường hợp có giấy tờ hợp lệ về đất (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, ...) thì ghi rõ số giấy, ngày cấp, cơ quan cấp, diện tích, loại đất được cấp giấy; tình trạng sử dụng đất (có ổn định hay không ổn định), tình trạng về tranh chấp đất (nếu có).

+ Giấy xác nhận phải ghi rõ số tờ, số thửa đất, diện tích, loại đất nằm trong hồ sơ địa chính của khu đất thu hồi kèm theo bản đồ trích đo; ghi rõ số tờ, số thửa đất, diện tích, loại đất nằm ngoài phạm vi thu hồi đất (nếu có). Ghi thời gian sử dụng, mục đích sử dụng, chủ sử dụng qua các mốc thời gian ngày 18 tháng 12 năm 1980, ngày 15 tháng 10 năm 1993, ngày 01 tháng 7 năm 2004, thời gian làm nhà ở hoặc thời gian chuyển sang sử dụng làm đất ở. 

- Về chủ sử dụng đất và tình trạng biến động hồ sơ sử dụng đất.

+ Xác định đúng tên người đang sử dụng đất. Trường hợp tên người đang sử dụng đất khác với các giấy tờ về đất thì phải ghi rõ quá trình biến động về đất. Nếu không xác định được chủ sử dụng thì ghi “Không xác định được chủ sử dụng”.

+ Trường hợp diện tích có thay đổi giữa bản đồ trích đo và giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phải ghi rõ lý do, tình trạng sử dụng đất (có chuyển quyền sử dụng đất hoặc thay đổi ranh giới thửa đất).

+ Trường hợp có thay đổi số tờ bản đồ, số thửa thì ghi số tờ, số thửa theo bản đồ trích đo và ghi thêm số tờ, số thửa theo giấy tờ về đất trong ngoặc đơn.

+ Nếu là đất nông nghiệp phải xác nhận hộ gia đình, cá nhân có trực tiếp sản xuất nông nghiệp hay không. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp nhưng không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì phải ghi rõ vào giấy xác nhận.

- Về loại đất:

+ Loại đất được ghi đúng theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hoặc theo các giấy tờ về đất kèm theo.

+ Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác nhận rõ phần diện tích đất thu hồi có nằm trong diện tích đất vượt hạn mức và nguồn gốc sử dụng đất.

- Xác nhận về nguồn gốc nhà ở hoặc vật kiến trúc gắn liền với đất: xác nhận về thời gian làm nhà ở (gắn với thời gian chuyển sang sử dụng làm đất ở), tình trạng pháp lý của nhà ở hoặc vật kiến trúc (gắn liền với đất): hợp pháp, không hợp pháp, có giấy phép xây dựng hoặc giấy tờ công nhận quyền sở hữu, trong quá trình tạo lập tài sản có vi phạm các quy định của Nhà nước không.

4. Thành lập Hội đồng tư vấn cấp xã:

a) Đối với trường hợp sử dụng đất và tài sản trên đất có nguồn gốc không rõ ràng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thể quyết định thành lập Hội đồng tư vấn cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên đang công tác hoặc đã từng công tác tại xã, có am hiểu về đất đai tại địa phương, những người sống lâu năm tại địa phương để giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xác định nguồn gốc sử dụng đất và tài sản trên đất của người có đất bị thu hồi;

b) Hội đồng tư vấn cấp xã có nhiệm vụ tư vấn cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất; quyền sở hữu tài sản trên đất;

c) Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thành lập, Hội đồng tư vấn cấp xã có trách nhiệm tổ chức họp để xác định cụ thể nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, quyền sở hữu tài sản trên đất; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai của các trường hợp cần xác định tính pháp lý.

- Kết quả của các cuộc họp phải được thể hiện bằng biên bản và có chữ ký của tất cả thành viên tham gia; nội dung của biên bản phải thể hiện chi tiết từng trường hợp xác định tính pháp lý; ý kiến của từng thành viên tham gia; phải có danh sách các trường hợp đã được xác định tính pháp lý về sử dụng đất. Danh sách phải thể hiện đầy đủ các nội dung cần xác định, gồm: tên người sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân); địa điểm thửa đất, địa chỉ người sử dụng đất; thửa đất số, diện tích, loại đất; thời điểm, nguồn gốc, hình thức sử dụng đất; tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các giấy tờ đất đai có liên quan; hộ gia đình, cá nhân có phải là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp không; hạn điền sử dụng đất.

- Nếu trong phiên họp có nhiều ý kiến khác nhau thì Chủ tịch Hội đồng giao trách nhiệm cho thành viên Hội đồng tiến hành xác minh, lấy ý kiến của nhân dân trong khu vực và báo cáo cho Hội đồng trong cuộc họp khác.

- Việc tiến hành xác minh phải có ít nhất 2 thành viên Hội đồng tham gia, trong đó có 1 thành viên là cán bộ địa chính cấp xã. Người dân được lấy ý kiến xác minh phải tối thiểu là 2 người và phải là người sống lâu năm trong khu vực. Quá trình xác minh phải lập biên bản có chữ ký của thành viên tham gia xác minh và của người được lấy ý kiến.

- Sau khi có kết quả xác minh, trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, Chủ tịch Hội đồng tư vấn phải tổ chức cuộc họp lần 2.

- Căn cứ kết quả của các cuộc họp, Hội đồng tư vấn cấp xã tiến hành lập danh sách các trường hợp đã được Hội đồng tư vấn thống nhất về nguồn gốc đất đai, thời điểm sử dụng đất và tài sản trên đất; niêm yết công khai danh sách tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và trụ sở thôn, khu phố; ở những địa phương chưa có trụ sở thôn, khu phố thì niêm yết tại nhà thôn trưởng, khu phố trưởng trong thời hạn 07 (bảy) ngày làm việc. Trưởng thôn, khu phố có trách nhiệm thông báo rộng rãi cho các hộ gia đình, cá nhân biết việc công bố danh sách xác định tính pháp lý để dân tiện theo dõi và có ý kiến.

- Hội đồng tư vấn cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận ý kíến đóng góp của nhân dân; lập biên bản chấm dứt niêm yết.

- Hết thời hạn niêm yết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký giấy xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất và tài sản trên đất theo quy định tại khoản 3 Điều này.