Điều 54. Kiểm tra tờ khai, kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất và xác định nguồn gốc đất đai
1. Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường thực hiện việc kiểm tra xác định nội dung kê khai và thông báo việc thực hiện kiểm kê tài sản gắn liền với đất theo trình tự sau:
a) Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường căn cứ danh sách người sử dụng đất trong hồ sơ địa chính của khu đất thu hồi để gửi thông báo cho chủ hộ thời gian có mặt để tiến hành kiểm kê tài sản trên đất tại thực địa. Thông báo được lập 03 bản; tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường giữ 01 bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người có đất, tài sản bị thu hồi;
b) Trường hợp chủ hộ đi vắng hoặc không xác định được địa chỉ thì tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường phải thông báo trên báo hoặc phương tiện truyền thông liên tiếp 03 kỳ trong vòng 30 ngày (Đài Truyền thanh huyện, đăng Báo Ninh Thuận, Đài Phát thanh và Truyền hình Ninh Thuận, loa đài cấp xã). Nếu sau 30 ngày kể từ ngày đăng thông báo mà chủ hộ không đến thì tiến hành lập biên bản đo đạc, kiểm kê tài sản theo diện vắng chủ.
2. Công tác đo đạc, kiểm kê được thực hiện theo quy định sau:
a) Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường cùng chủ hộ tiến hành đo đạc, kiểm kê tài sản, lập biên bản xác nhận (theo mẫu thống nhất).
- Tham gia buổi đo đạc, kiểm kê thực địa có thành viên của tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường cùng chủ hộ và các thành viên khác, bao gồm:
+ Đại diện Ban quản lý thôn hoặc khu phố.
+ Đại diện cho Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có dự án hoặc ủy quyền cho cán bộ địa chính cấp xã.
+ 01 thành viên của Hội đồng bồi thường cấp huyện là đại diện cho người bị thu hồi đất.
+ Đại diện chủ đầu tư.
- Biên bản đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản gắn liền với đất của người có tài sản do tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường lập với chủ hộ có tài sản.
- Biên bản đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản của người có tài sản là tài liệu xác lập số lượng, chất lượng tài sản gắn liền với diện tích đất thu hồi để làm cơ sở cho việc tính toán bồi thường, hỗ trợ.
Đối với nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh là tài sản của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, có trích khấu hao thì phải đánh giá tỷ lệ giá trị còn lại của tài sản để ghi vào biên bản kiểm kê tài sản.
- Nếu chủ hộ không có tài sản gắn liền với đất thì ghi vào biên bản “chủ hộ không có tài sản gắn liền với đất”.
- Trường hợp tài sản trên đất không phải là của người bị thu hồi đất thì ghi vào biên bản “tài sản nằm trên đất của… (chủ hộ bị thu hồi đất)” và có xác nhận của người bị thu hồi đất.
- Biên bản kiểm kê được lập làm 03 bản (chủ hộ giữ 01 bản). Biên bản phải có chữ ký của các thành viên tham gia buổi kiểm kê và chữ ký hoặc điểm chỉ của chủ hộ (nếu chủ hộ không ký được). Sau khi lập xong biên bản, tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường giao lại chủ hộ 01 bản, 02 bản còn lại được chuyển cho Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ký tên đóng dấu. Trường hợp Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ủy quyền cho cán bộ địa chính xã tham gia kiểm kê thì sau buổi kiểm kê Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký tên đóng dấu xác nhận lên biên bản;
b) Khi kiểm kê, nếu chủ hộ không ký thì ghi rõ trong biên bản “chủ hộ không ký”. Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ thì ghi trong biên bản “kiểm kê diện vắng chủ”. Trong trường hợp kiểm kê diện vắng chủ hoặc chủ hộ có mặt khi kiểm kê nhưng không ký biên bản thì phải có ký xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã (ký tên, đóng dấu) và ký xác nhận của đại diện Ban quản lý thôn hoặc khu phố.
3. Đối với trường hợp người bị thu hồi đất cố tình gây cản trở, không hợp tác với tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường để tiến hành kiểm kê thì tổ chức thực hiện kiểm kê bắt buộc theo quy định sau:
a) Tổ chức thực hiện bồi thường có văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm kê bắt buộc hiện trạng khuôn viên nhà, đất và tài sản gắn liền trên đất để phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
b) Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của tổ chức thực hiện bồi thường, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm kê bắt buộc đối với hộ có đất thu hồi;
c) Khi tiến hành kiểm kê bắt buộc phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã, Ban quản lý thôn hoặc khu phố và đại diện Hội đồng bồi thường cấp huyện là đại diện cho người bị thu hồi đất. Các thành viên tham gia chứng kiến cùng ký vào biên bản kiểm kê (ký tên, đóng dấu).
4. Thu các loại giấy tờ liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Sau khi tiến hành kiểm kê xong, tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường gửi thông báo cho hộ bị thu hồi đất thời gian và địa điểm nộp các loại giấy tờ liên quan để làm cơ sở tính toán bồi thường, hỗ trợ. Thông báo được lập 03 bản: tổ chức thực hiện bồi thường giữ 01 bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người có đất bị thu hồi. Đến hạn theo thông báo, tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường thu tất cả các loại giấy tờ nhà, đất; sổ hộ khẩu (bản sao) hoặc xác nhận của địa phương về số nhân khẩu do Công an xã, phường, thị trấn xác nhận (bản chính) và các giấy tờ có liên quan đến việc bồi thường giải toả, tái định cư của chủ hộ đã gửi (bản chính hoặc bản sao).
Người tiếp nhận giấy tờ phải lập thành 02 bản kê (giao cho người nộp 01 bản) các loại giấy tờ mà người bị thu hồi đất nộp có chữ ký của người nộp và người nhận;
b) Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường yêu cầu chủ hộ mang cả bản chính và bản sao để đối chiếu. Trường hợp là bản photo không có công chứng thì người nhận hồ sơ phải kiểm tra, đối chiếu, ký và ghi rõ họ tên người kiểm tra vào bản photo.