Điều 11. Hình thức thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
11.1. Thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản cam kết hoặc hợp đồng thế chấp tài sản (từ đây gọi chung là hợp đồng thế chấp tài sản). Đối với tài sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì khi thế chấp phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; bên nhận thế chấp giữ bản gốc giấy tờ về quyền sở hữu tài sản.
11.2. Cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản cam kết hoặc Hợp đồng cầm cố tài sản (từ đây gọi chung là hợp đồng cầm cố tài sản). Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc cầm cố tài sản cũng phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
a) Đối với những tài sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì bên nhận cầm cố có thể giữ bản gốc giấy tờ về quyền sở hữu tài sản hoặc giữ tài sản cầm cố là do 2 bên thoả thuận. Trường hợp bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố thì đồng thời phải giữ cả bản gốc giấy tờ về quyền sở hữu tài sản đó.
b) Đối với những tài sản pháp luật không quy định đăng ký quyền sở hữu thì bên cầm cố phải có bản cam kết về quyền sở hữu tài sản của mình có xác nhận của cơ quan quản lý có thẩm quyền (đối với doanh nghiệp Nhà nước là bảng danh mục tài sản cầm cố theo Thông tư liên Bộ Ngân hàng Nhà nước - Tài chính - Tư pháp số 01/TT-LB ngày 3/7/1996) kèm theo hợp đồng cầm cố.
11.3. Bảo lãnh vay vốn phải được lập thành văn bản cam kết hoặc hợp đồng bảo lãnh (từ đây gọi là hợp đồng bảo lãnh).
11.4. Hợp đồng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh cần có chứng nhận của cơ quan Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (từ đây gọi tắc là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) theo quy định:
a) Đối với những tài sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu nhất thiết phải có công chứng hợp đồng.
b) Đối với những tài sản mà pháp luật không quy định đăng ký quyền sở hữu nhưng tổng giá trị tài sản ghi trên hợp đồng từ 50 triệu đồng (năm mươi triệu) trở lên nhất thiết phải công chứng; nếu dưới 50 triệu đồng thì việc công chứng hay không trên hợp đồng thế chấp, cầm cố là do 2 bên nhận thế chấp, cầm cố và bên thế chấp, cầm cố thoả thuận.
c) Riêng đối với hợp đồng bảo lãnh thì mọi giá trị tài sản ghi trên hợp đồng nhất thiết phải công chứng.
d) Thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố và hợp đồng bảo lãnh thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên Bộ Ngân hàng Nhà nước - Tài chính - Tư pháp số 01/TT-LB ngày 3/7/1996.
11.5. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì khi thế chấp, cầm cố, bảo lãnh phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.