vanban.org

Điều 23. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; bố trí tái định cư — Quyết định 21/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/04/2012 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 13/04/2012 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 26/2012/QĐ-UBND · 03/04/2012
Đồng Nai Ban hành 05/04/2010 Hiệu lực 15/04/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 21/2010/QĐ-UBND Ban hành trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai · 21/2010/QĐ-UBND
13/04/201226/2012/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 15/04/2010Bản gốcThay thế
Quyết định số 53/2008/QĐ-UBND Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất · 53/2008/QĐ-UBND
Quyết định số 07/2007/QĐ-UBND Ban hành Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất · 07/2007/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 21/2010/QĐ-UBND › Chương 3 › Mục 5 › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; bố trí tái định cư

1. Việc chi trả tiền bồi thường do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư, Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng để thực hiện.

Thời gian chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện sau 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện xong việc niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường theo quy định.

Khi chi trả tiền bồi thường, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải thu toàn bộ các giấy tờ về nhà, đất (bản chính) và chuyển cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để chỉnh lý hoặc thu hồi giấy tờ về nhà, đất theo quy định.

2. Sau 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn chi trả tiền theo

‘‘Thông báo nhận tiền bồi thường’’ nếu người bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ không đến liên hệ để nhận tiền thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập biên bản xác nhận và nộp tiền bồi thường, hỗ trợ vào Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng để chờ xử lý. Đến đây là hoàn tất việc chi trả tiền bồi thường.

3. Trường hợp người bị thu hồi đất đi vắng hoặc không xác định được địa chỉ hoặc kiểm kê vắng chủ thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải thông báo trên Báo Đồng Nai, Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Nai, Truyền thanh của cấp xã liên tiếp 03 (ba) kỳ trong vòng 07 (bảy) ngày.

Nếu sau 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày đăng thông báo lần đầu tiên mà người bị thu hồi đất không đến nhận thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập biên bản xác nhận và gửi toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng chờ xử lý. Đồng thời, thông báo cho người được bồi thường biết về việc đã gửi tiền.

4. Những trường hợp đang tranh chấp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo cho Thanh tra Nhà nước cùng cấp phối hợp cùng tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường và Ủy ban nhân dân cấp xã thẩm tra xác minh đối tượng và quá trình sử dụng đất để làm cơ sở chi trả bồi thường.

Phần tiền bồi thường tạm thời nộp Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng đến khi đã xác định đúng đối tượng hoặc giải quyết xong tranh chấp thì chi trả cho người được quyền thụ hưởng. Nếu sau khi thẩm tra xác minh mà có sự khác biệt về đối tượng bồi thường, số tiền bồi thường, hỗ trợ so với quyết định đã phê duyệt thì Hội đồng Bồi thường lập tờ trình báo cáo cấp có thẩm quyền để quyết định điều chỉnh.

5. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thực hiện việc bố trí tái định cư theo phương án bồi thường được duyệt.