Điều 12. Tổ chức đo đạc, kiểm kê hiện trạng
1. Thành phần tham gia đo đạc, kiểm kê hiện trạng gồm có:
a) Đại diện tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường;
b) Người bị thu hồi đất (hoặc người đại diện hợp pháp);
c) Đại diện chủ dự án;
d) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã;
đ) Đại diện của những người bị thu hồi đất đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thuộc phạm vi dự án giới thiệu.
2. Nội dung kiểm kê
a) Phần kiểm kê về đất đai và nhà cửa, vật kiến trúc: Kiểm kê toàn bộ diện tích đất thu hồi, từng hạng mục nhà cửa, vật kiến trúc, đánh giá kết cấu, cấp hạng nhà, kích thước, diện tích. Nhà cửa, vật kiến trúc bị giải tỏa một phần thì chỉ kiểm kê phần bị giải tỏa.
Đối với nhà và các loại công trình, vật kiến trúc mà khi tháo dỡ phần bị giải tỏa sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc của phần còn lại thì phải xem xét phần ảnh hưởng. Diện tích tính ảnh hưởng là diện tích tính từ vạch giải tỏa đến mép trụ đỡ gần nhất; việc xác định ảnh hưởng chỉ áp dụng đối với trường hợp diện tích còn lại sau khi bị giải tỏa có thể tự chống đỡ để tồn tại và sử dụng được.
b) Phần kiểm kê về tài sản khác như: Đồng hồ điện, nước (phải ghi rõ là đồng hồ chính hay phụ), giếng, điện thoại,... các hạng mục như hầm tự hoại, bể nước, nhà vệ sinh... nằm trong kết cấu nhà thì không kiểm kê, chỉ kiểm kê khi là công trình phụ độc lập nằm ngoài diện tích nhà.
c) Phần kiểm kê về cây trồng: Thực hiện theo quy định tại Quyết định số 30/2008/QĐ-UBND ngày 14/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về đơn giá bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, ghi rõ là cây tập trung hay phân tán; phân loại A, B, C, D, E.
d) Đối với nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh là tài sản của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, có trích khấu hao thì phải đánh giá tỷ lệ giá trị còn lại của tài sản để ghi vào biên bản kiểm kê tài sản.
đ) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm vẽ sơ đồ nhà cửa, vật kiến trúc vào biên bản kiểm kê tài sản.
3. Lập biên bản đo đạc, kiểm kê hiện trạng
a) Biên bản kiểm kê hiện trạng là tài liệu xác lập số lượng, chất lượng tài sản gắn liền với diện tích đất thu hồi để làm cơ sở cho việc tính toán bồi thường, hỗ trợ.
Biên bản được lập thành 02 (hai) bản có giá trị như nhau và phải có chữ ký của tất cả thành viên tham gia kiểm kê hiện trạng hoặc điểm chỉ (nếu không ký được) do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập và Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.
b) Nội dung biên bản phải ghi nhận ý kiến của người bị thu hồi đất về thời gian làm nhà ở hoặc thời gian tạo lập tài sản có trên đất (công trình phụ, giếng nước, ao đào, cây trồng…). Trường hợp ghi sai thì gạch ngang chữ sai và ghi lại, không được tẩy xóa, người ghi sai phải ký vào bên cạnh chữ sửa chữa.
Biên bản được lập theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Quy định này.
4. Các trường hợp kiểm kê đặc biệt
a) Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ thì ghi trong biên bản cụm từ:
‘‘Kiểm kê theo diện vắng chủ”; trường hợp người bị thu hồi đất không có tài sản gắn liền với đất thì ghi vào biên bản cụm từ "Người bị thu hồi đất không có tài sản gắn liền với đất"; trường hợp giải tỏa trắng thì ghi vào đầu biên bản cụm từ "Hộ giải tỏa trắng".
b) Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ hoặc người bị thu hồi đất có mặt nhưng không ký biên bản thì phải ghi nhận rõ sự việc, lý do từ chối ký biên bản và đại diện thôn, ấp, khu phố ký xác nhận sự việc, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận (ký tên, đóng dấu).
c) Trường hợp người bị thu hồi đất không đồng ý cho tiến hành đo đạc, kiểm kê thì áp dụng biện pháp kiểm kê bắt buộc và phải có quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc kiểm kê bắt buộc. Khi kiểm kê phải mời đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã và đại diện của khu phố, thôn, ấp nơi có đất bị đất bị thu hồi chứng kiến. Các thành viên tham gia buổi kiểm kê và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện của khu phố, thôn, ấp cùng ký vào biên bản kiểm kê, Ủy ban nhân dân cấp xã ký xác nhận (ký tên, đóng dấu).