Điều 17. Thu hồi giấy phép
1. Việc thu hồi giấy phép được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân là chủ giấy phép bị giải thể hoặc bị Tòa án tuyên bố phá sản; cá nhân là chủ giấy phép bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố mất tích.
b) Giấy phép được cấp nhưng không sử dụng trong 12 (mười hai) tháng liên tục mà không được cấp có thẩm quyền cho phép.
c) Chủ giấy phép vi phạm quyết định đình chỉ hiệu lực của giấy phép.
d) Chủ giấy phép vi phạm nội dung quy định của giấy phép, gây cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước.
đ) Giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền.
e) Khi cấp có thẩm quyền thu hồi giấy phép vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
2. Trong trường hợp giấy phép bị thu hồi do chủ giấy phép vi phạm quy định tại các Điểm b và c Khoản 1 Điều này, chủ giấy phép chỉ được xem xét, cấp giấy phép mới sau 03 (ba) năm kể từ ngày bị thu hồi, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến lý do thu hồi giấy phép cũ.
3. Trong trường hợp giấy phép bị thu hồi theo quy định tại các Điểm đ và e Khoản 1 Điều này, thì cấp có thẩm quyền cấp phép xem xét việc cấp giấy phép mới khi chủ giấy phép có yêu cầu.
4. Khi thực hiện công tác thanh, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, nếu phát hiện tổ chức, cá nhân được cấp phép vi phạm các nội dung quy định tại các Điểm a, b và đ Khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền thanh, kiểm tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho cấp có thẩm quyền cấp phép; nếu phát hiện các trường hợp quy định tại các Điểm c và d Khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền thanh, kiểm tra xử lý theo thẩm quyền và báo cáo bằng văn bản cho cấp có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cấp có thẩm quyền cấp phép có trách nhiệm xem xét việc thu hồi giấy phép.
5. Đối với trường hợp cấp có thẩm quyền cấp phép quyết định thu hồi giấy phép theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều này thì phải thông báo cho chủ giấy phép biết trước 30 (ba mươi) ngày.