Điều 16. Đình chỉ hiệu lực của giấy phép
1. Giấy phép bị đình chỉ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân được cấp phép vi phạm các nội dung quy định của giấy phép.
b) Tổ chức, cá nhân được cấp phép tự ý chuyển nhượng giấy phép.
c) Tổ chức, cá nhân được cấp phép lợi dụng giấy phép để tổ chức hoạt động không đúng quy định trong nội dung giấy phép.
2. Khi thực hiện công tác thanh, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, nếu phát hiện tổ chức, cá nhân được cấp phép vi phạm các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền thanh, kiểm tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho cấp có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét việc đình chỉ hiệu lực của giấy phép.
3. Căn cứ mức độ vi phạm của chủ giấy phép, mức độ ảnh hưởng của việc đình chỉ giấy phép đến hoạt động sản xuất, đời sống của nhân dân trong vùng, cấp có thẩm quyền quyết định thời gian và thời hạn đình chỉ hiệu lực của giấy phép, nhưng thời hạn đình chỉ không quá:
a) 03 (ba) tháng đối với giấy phép thăm dò nước dưới đất.
b) 06 (sáu) tháng đối với giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước.
c) 06 (sáu) tháng đối với giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh có thể xem xét rút ngắn thời hạn đình chỉ hiệu lực của giấy phép khi chủ giấy phép đã khắc phục hậu quả liên quan đến lý do đình chỉ giấy phép.