Điều 6. Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ
Việc bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được thuê tư vấn định giá để xác định mức bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ. Việc lựa chọn thuê tư vấn định giá thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu; kinh phí thuê tư vấn được tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của từng dự án.
2. Căn cứ kết quả xác định mức bồi thường thiệt hại của tư vấn định giá, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng kiểm tra, rà soát từng trường hợp chuyển cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện chủ trì, phối hợp với phòng Tài chính - Kế hoạch và các phòng ban có liên quan thẩm định trước khi trình Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xem xét cho ý kiến và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể.
Hồ sơ xác định thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ bao gồm:
a) Danh mục người sử dụng đất, số hiệu thửa đất bị thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất; đánh giá mức thiệt hại của tư vấn định giá;
b) Văn bản thẩm định của phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện về các trường hợp bị thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ;
c) Ý kiến của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện về kết luận, đề xuất của Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện.