Điều 4. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tại thời điểm thu hồi đất hoặc không đủ điều kiện cấp phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng tại thời điểm thu hồi đất mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi (riêng địa bàn huyện Côn Đảo thì việc xác định không còn đất ở, nhà ở nào khác được xét trên địa bàn huyện Côn Đảo) thì được bồi thường bằng đất ở tại khu tái định cư hoặc bằng nhà ở tại khu tái định cư theo quy định sau đây:
Trường hợp bồi thường bằng đất ở tại khu tái định cư thì diện tích đất ở được bồi thường không lớn hơn diện tích đất ở thu hồi; đối với trường hợp có diện tích đất ở thu hồi nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tại thời điểm có quyết định thu hồi đất thì diện tích đất ở được bồi thường bằng một (01) suất đất ở tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 1 Điều 22 Quy định này.
Trường hợp bồi thường bằng nhà ở tại khu tái định cư thì căn cứ số tiền được bồi thường về đất ở, nhà ở của người có đất ở thu hồi để quyết định mức diện tích nhà ở tái định cư được bồi thường nhưng mức diện tích nhà ở tái định cư được bồi thường lớn nhất không quá 77m² sàn và nhỏ nhất bằng một (01) suất nhà ở tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 1 Điều 22 Quy định này;
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tại thời điểm thu hồi đất hoặc trường hợp không đủ điều kiện cấp phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng tại thời điểm thu hồi đất mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi (riêng địa bàn huyện Côn Đảo thì việc xác định còn đất ở, nhà ở nào khác được xét trên địa bàn huyện Côn Đảo) thì được bồi thường bằng tiền. Đối với các huyện, thị xã, thành phố có điều kiện về quỹ đất ở thì xem xét bồi thường bằng đất ở tại khu tái định cư theo mức quy định tại điểm a khoản này.
2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì mỗi hộ gia đình riêng đó được giải quyết một (01) lô đất ở tại khu tái định cư hoặc một (01) suất nhà ở tại khu tái định cư; diện tích của một (01) lô đất ở tại khu tái định cư hoặc một (01) suất nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định căn cứ suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 1 Điều 22 Quy định này và quỹ đất ở, nhà ở tái định cư tại địa phương.
3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền và được nhận khoản hỗ trợ tái định cư quy định tại Điều 20 Quy định này.
4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi (riêng địa bàn huyện Côn Đảo thì việc xác định không còn chỗ ở nào khác được xét trên địa bàn huyện Côn Đảo) thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Diện tích nhà ở được mua, thuê, thuê mua, diện tích đất ở được giao bằng mức diện tích của suất tái định cư tối thiểu đối với nhà ở, đất ở quy định tại khoản 1 Điều 22 Quy định này.
5. Trường hợp tại thời điểm bồi thường, trong khu tái định cư không có lô đất ở có diện tích bằng diện tích đất ở đã thu hồi hoặc không có lô đất ở bằng suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 1 Điều 22 Quy định này thì các trường hợp được bồi thường về đất ở theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và trường hợp được giao đất ở theo quy định tại khoản 4 Điều này được bồi thường bằng lô đất tái định cư hoặc nhà ở tái định cư có diện tích tối thiểu trong khu tái định cư đó.
6. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất, giá nhà ở tại khu tái định cư
a) Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư là giá đất cụ thể theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định về giá đất (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ Sửa đổi bổ sung một số nghị định Quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, sau đây gọi là Nghị định số 01/2017/NĐ-CP).
b) Đối với trường hợp được bồi thường bằng nhà ở tại khu tái định cư quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì giá nhà ở được tính theo giá nhà ở xã hội áp dụng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại thời điểm bồi thường;
c) Đối với trường hợp người được thuê, thuê mua nhà ở tại khu tái định cư quy định tại khoản 4 Điều này thì giá thuê, thuê mua được xác định theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cấp huyện có trách nhiệm lập phương án bố trí tái định cư cho từng trường hợp cụ thể trình Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
7. Trường hợp phần diện tích còn lại của thửa đất có nhà ở bị thu hồi không đủ điều kiện được tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại thời điểm thu hồi đất thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.