vanban.org

Điều 8. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân — Quyết định 19/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/11/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/11/2009
Vĩnh Long Ban hành 16/10/2007 Hiệu lực 26/10/2007 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 19/2007/QĐ-UBND Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế · 19/2007/QĐ-UBND
15/11/200920/2009/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 26/10/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 19/2007/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng nêu tại khoản 1, điều 7, của quy định này.

2. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư được hỗ trợ về đất theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP) bao gồm các trường hợp sau:

a) Diện tích được hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thuộc phạm vi các khu vực sau:

+ Trong phạm vi địa giới hành chính các phường của thị xã.

+ Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư.

b) Đối với diện tích đất vườn, ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc các khu vực quy định tại điểm a, khoản 2, Điều này thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh, tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

c) Đối với diện tích đất thuộc thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới các khu vực quy định tại điểm a, khoản 2, Điều này thì diện tích được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa đất không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

d) Diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền đối với các trường hợp quy định tại điểm b, c, khoản 2, Điều này như sau:

+ Nếu hộ bị thu hồi diện tích đất từ 1.500 m2 trở xuống của mỗi thửa đất thì đu7ọc hỗ trợ theo diện tích đất bị thu hồi thực tế. Diện tích đất bị thu hồi trên 1.500 m2 của mỗi thửa đất thì diện tích đựơc tính để hỗ trợ là 1.500m2.

đ) Mức giá tình hỗ trợ bằng tiền cho các trường hợp quy định tại điểm a, b, c, khoản 2, Điều này là 50% so với mức giá đất ở cùng khu vực.

e) Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ giá đất nông nghiệp nêu trên ( bao gồm giá trị đất nông nghiệp được bồi thường + hỗ trợ ), phải thấp hơn giá đất ở cùng khu vực.

3. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá trị thấp hơn giá đất bị thu hồi thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi thì bồi thường tương ứng với giá trị quyền sử dụng của đất bị thu hồi.