Điều 4. Nguyên tắc bồi thường
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại điều 8, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, ngày 03/12/2004; điều 11, 12, 13, 14, 15, 16, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì UBND tỉnh xem xét hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể.
2. Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào, thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị, thì phần chênh lệch về giá trị đó được thực hiện thanh toán bằng tiền, cụ thể:
a) Người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp.
b) Người được sử dụng đất phi nông nghiệp ( không phải là đất ở ) theo quy định của pháp luật, nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường theo đất phi nông nghiệp ( không phải là đất ở ).
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với nhà nước theo quy định của pháp luật, thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước ( Nghĩa vụ tài chính bao gồm các khoản mục theo hướng dẫn tại Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004; Thông tư số 69/2007/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính ).
4. Diện tích đất được bồi thường hoặc hỗ trợ, là diện tích được xác định theo giấy chứng nhận QSD đất, trường hợp có chênh lệch giữa số liệu diện tích đo đạc thực tế với số liệu diện tích ghi trên giấy chứng nhận QSD đất thì giải quyết theo khoản 4, Điều 6 của quy định này.
5. Phần diện tích đất còn lại được ghi nhận nội dung và lý do biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.